TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Ngành xây dựng công trình giao thông: Khó khăn cả khi sẵn việc?

Ngành xây dựng công trình giao thông: Khó khăn cả khi sẵn việc?

Trong khi nhiều ngành đang gặp khó khăn thì các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông lại đứng trước cơ hội lớn.

Mỗi năm giải ngân thêm 20.000 tỷ đồng
 
Theo các chuyên gia, chưa bao giờ ngành giao thông vận tải (GTVT) lại cùng một lúc triển khai nhiều dự án lớn như năm 2008. Không tính một số dự án chuyển tiếp từ năm trước, các dự án sử dụng vốn ODA và vốn trái phiếu chính phủ có quy mô dưới 4.000 tỷ đồng, thì riêng số dự án có tổng mức đầu tư khoảng 10.000 tỷ đồng sẽ được khởi công trong quý IV/2008 đã lên tới con số 4.
 
Trong số này, lớn nhất là dự án xây dựng đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, dài 105,5 km, do Tổng công ty Phát triển hạ tầng và đầu tư tài chính (Vidifi) làm chủ đầu tư, có tổng mức đầu tư khoảng 24.000 tỷ đồng.
 
Ngoài dự án xây dựng đường cao tốc TP. HCM - Long Thành - Dầu Giây, dài 55 km, có tổng mức đầu tư 9.890 tỷ đồng, do Công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) làm chủ đầu tư được triển khai ở khu vực phía Nam thì 3 "siêu dự án" mới còn lại gồm: dự án xây dựng đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng; dự án xây dựng đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai, dài 264 km, tổng mức đầu tư gần 20.000 tỷ đồng (VEC làm chủ đầu tư); dự án xây dựng cầu Nhật Tân, tổng mức đầu tư hơn 9.000 tỷ đồng (Bộ GTVT làm chủ đầu tư), đều được triển khai ở khu vực phía Bắc.
 
Đó là chưa tính đến dự án xây dựng đường cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ do VEC làm chủ đầu tư đang trong giai đoạn thi công nước rút, nhiều khả năng sẽ điều chỉnh tổng mức đầu tư lên khoảng 10.000 tỷ đồng.
 
Theo kế hoạch, tất cả các dự án này đều được thi công trong vòng 4 năm. Như vậy, tính trung bình, mỗi năm toàn ngành GTVT phải giải ngân thêm ít nhất 20.000 tỷ đồng. Đây là con số tăng thêm đáng kể, bởi ngoài 4 dự án lớn trên, từ nay đến hết năm 2010, ngành GTVT phải giải ngân thêm tối thiểu 10.000 tỷ đồng vốn trái phiếu chính phủ.
 
Chưa bao giờ, cơ hội tham gia đấu thầu các dự án ngành GTVT lại rộng mở cho các doanh nghiệp đến vậy.
 
Nhưng khó triển khai
 
Thách thức lớn nhất đối với các chủ đầu tư ngành GTVT chính là nguy cơ thiếu hụt nhà thầu. Mặc dù các chủ đầu tư 4 dự án lớn nêu trên đều áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi quốc tế cho các gói thầu xây lắp và tư vấn, nhưng không vì thế mà sự căng thẳng về nguồn nhân lực phục vụ thi công giảm đi.
 
Có một thực tế là, không một nhà thầu quốc tế nào khi trúng thầu lại huy động cả ngàn lao động cùng tất cả các thiết bị, máy móc vượt hàng ngàn cây số với vô số thủ tục phức tạp sang Việt Nam trực tiếp thi công.
 
Cho nên, ngoài bộ khung quản lý dự án, chỗ dựa về nhân lực thi công chính của họ vẫn là các nhà thầu trong nước. Trong khi đó, ngoài 7 tổng công ty xây dựng công trình giao thông lớn của Bộ GTVT thì số doanh nghiệp xây dựng khác thuộc Bộ Xây dựng, Bộ Quốc phòng, các công ty tư nhân có năng lực thi công các công trình giao thông quy mô lớn, phức tạp về công nghệ, đạt giá trị sản lượng trung bình khoảng 2.000 tỷ đồng/năm chỉ đếm trên đầu ngón tay.
 
Đây thực sự là một bài toán hóc búa dành cho các chủ đầu tư trong việc đảm bảo tiến độ triển khai các dự án lớn, bởi máy móc, thiết bị thi công có thể bổ sung gấp được, song việc đào tạo cán bộ quản lý dự án, kỹ sư thi công, lao động có tay nghề cao không phải là một việc có thể thực hiện trong một sớm, một chiều.
 
Điều trớ trêu nhất là cuộc khủng hoảng thiếu thứ hai có nguy cơ xảy ra trong những năm tới chính là sự thiếu hụt các vật liệu xây dựng cơ bản như: đá, cát, sỏi phục vụ thi công các dự án hạ tầng lớn - những thứ mà từ trước tới nay luôn được cho là sẵn có và dồi dào.
 
Theo tính toán, riêng đá cấp phối phục vụ 4 dự án cầu, đường lớn ở khu vực phía Bắc ước khoảng 30 triệu m3. Cùng với nguy cơ khan hiếm vật liệu xây dựng, hiện tượng các nhà thầu Việt Nam chuyển trạng thái từ thiếu việc làm, phải đôn đáo nhận công trình, sang trạng thái bị sức ép dồn dập của quá nhiều công trình, trong khi năng lực chưa thực sự được cải thiện tương ứng, không chỉ là hậu quả của việc "no dồn, đói góp dự án", mà còn do cả những khiếm khuyết trong việc đào tạo xây dựng nguồn nhân lực xây dựng cầu đường của cả các doanh nghiệp lẫn cơ quan quản lý nhà nước.
 
Bên cạnh đó, việc tăng giá nguyên liệu đầu vào khiến các doanh nghiệp phải điều chỉnh dự toán. Điều này gây tốn kém cả về thời gian và tiền bạc, công sức.
  
TTCK lao dốc nhanh và mạnh không chỉ làm giảm đi tính thanh khoản của các cổ phiếu, mà còn buộc các doanh nghiệp phải cân nhắc lùi kế hoạch cổ phần hóa, phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn hoặc tiến hành niêm yết.
 
Hiện nay, khi việc huy động vốn thông qua TTCK trở nên khó khăn, nhiều doanh nghiệp đành tìm đến ngân hàng, dù phải chịu áp lực trả lãi và thanh toán không nhỏ.
 
Đối với các doanh nghiệp nhà nước xây dựng cơ bản đang tiến hành cổ phần hóa, tác động từ sự suy giảm của TTCK còn nặng nề hơn. Những doanh nghiệp nhà nước hoạt động hiệu quả trong lĩnh vực này đều đã được cổ phần hóa từ khá lâu.
 
Còn lại chủ yếu là những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, lợi nhuận thấp, số nợ phải trả thường cao hơn tổng tài sản. Trên thực tế, cổ phiếu của nhiều công ty xây dựng cơ bản ngành giao thông chưa niêm yết có tính thanh khoản rất kém, do tình hình làm ăn không tốt.
 
Tình trạng nợ tiền nguyên liệu đầu vào, nợ lương công nhân, bảo hiểm xã hội diễn ra khá phổ biến. Bên cạnh đó, phương hướng sản xuất, kinh doanh thời kỳ hậu cổ phần hóa thường không rõ ràng, cổ tức cam kết trả không cao. Trong khi đó, số lượng cổ phần do Nhà nước nắm giữ đều trên 50%.
 
Với chất lượng cổ phiếu không cao như hiện nay, mục tiêu cổ phần hóa các doanh nghiệp xây dựng cơ bản ngành giao thông để thu hút vốn từ bên ngoài khó có thể đạt được.
 
Thực tế, không ít doanh nghiệp lâm vào tình cảnh cổ phần hóa nửa vời khi số tiền thu về từ đấu giá cổ phần chỉ đạt vài ba tỷ đồng, không đủ để tái cơ cấu các khoản nợ hoặc tạo nên một động lực đáng kể trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.
 
Hiện đã có 5 doanh nghiệp ngành giao thông niêm yết cổ phiếu trên TTCK (4 tại HASTC và 1 tại HOSE). Đó là: CTCP 482 - Cienco4 (mã chứng khoán B82), CTCP MCO Việt Nam (mã chứng khoán MCO), CTCP Lương Tài (mã chứng khoán LUT), CTCP Bê tông 620 Châu Thới (mã chứng khoán BT6), CTCP XDCTGT 492 (mã chứng khoán C92).
 
Theo Anh Minh - Đông Hải
ĐTCK
 
Theo Anh Minh - Đông Hải
ĐTCK

thanhtu

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên