TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Ngành xi măng chết vì quy hoạch

Ngành xi măng chết vì quy hoạch

Nếu năm 2007 Bộ Xây dựng thực hiện tốt chỉ đạo của Thủ tướng, siết lại việc thực hiện các dự án xi măng, dừng bổ sung quy hoạch thì ngành xi măng không rơi vào cảnh khốn khó như hiện nay.

Từ lỗ tới lỗ

Những cái tên của ngành xi măng như Hạ Long, Đồng Bành, Thái Nguyên, Tam Diệp đang dần trở nên nổi tiếng, không do ăn nên làm ra, mà vì thua lỗ và có điểm chung là “đang bên bờ vực phá sản". Có nhiều công ty như vậy trong ngành xi măng không? Ồng Mai Anh Tài, Phó tổng giám đốc Công ty Xi măng Thăng Long, nói: "Đầy!".

Tại một cuộc hội thảo do Hiệp hội Xi măng Việt Nam tổ chức hồi tháng 5-2012, những con số sau đây đã được nêu ra: So với đầu năm 2011, chi phí tài chính chiếm 20-25% giá thành xi măng; giá than tăng 170%; giá điện tăng 19%; giá dầu tăng 40%. Còn giá bán xi măng thì theo chiều ngược lại, giảm liên tục. Hiện giá bán lẻ xi măng lò đứng loại PCB30 ờ khu vực phía Bắc chi khoảng 850.000-900.000 đồng/tấn; xi măng lò quay 1-1,2 triệu đổng/ tấn, ngoại trừ một vài thương hiệu uy tín có thể bán được giá cao hơn một chút. Ở miền Nam, nhờ nguồn sản xuất tại chỗ không nhiều nên giá bán cao hơn nhưng cũng chi dao dộng quanh 1,4-1,6 triệu đồng/tấn.

Đó là lý do khiến hầu hết các công ty xi măng đều thua lỗ. “Những công ty lỗ cỡ vài trăm tỉ thì rất nhiều”, ông Mai Anh Tài nói. Thế có công ty nào có lãi không? Ông Tài cho rằng chỉ vài đơn vị và cái tên ông có thể nêu ra là Hoàng Thạch. Đây là công ty có lợi thế nhờ nhà máy đã hết khấu hao, không chịu áp lực lãi vay, đồng thời cũng là thương hiệu được tín nhiệm ở phía Bắc.

Cái chết được báo trước

Vì sao ngành xi măng lại sớm rơi vào thảm cảnh? Do khó khăn của nền kinh tố hay do thị trường bất động sản suy thoái? Câu trả lời sẽ là “không", nếu nhìn vào cung cách quản lý, quy hoạch và thực thi quy hoạch đối với ngành xi măng.

Đầu tháng 7-2012, ông Lê Văn Tới, Vụ trưởng Vụ Vật liệu xây dựng thuộc Bộ Xây dựng, viết một bài báo đăng trên tạp chí Xây dựng với tựa đề Ngành xi măng phát triển đúng định hướng. Trong bài viết này, ông tổng kết một cách ngắn gọn về những thành tựu sau khi thực hiện quy hoạch ngành công nghiệp xi măng theo Quyết định 108/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: “Công nghệ sản xuất được đầu tư theo hướng hiện đại hơn, sản lượng mỗi ngày một cao hơn, đưa toàn ngành xây dựng của cả nước chấm dứt hoàn toàn thời kỳ thiếu xi măng kéo dài (...). Mô hình doanh nghiệp xi măng tiếp tục phát triển trong đa dạng theo hướng giảm dần tỷ trọng của các doanh nghiệp nhà nước và thu hút dầu tư từ tư nhân và đầu tư nước ngoài (...) tạo ra tài sản cố định lớn hàng trăm nghìn tỷ đồng cho đất nước. Đồng thời, suốt 15 năm qua xi măng cùng là một trong những mặt hàng phát huy tốt nhất vai trò bình ổn giá theo chi đạo cùa Chính phủ...”.

Đúng là Việt Nam đã chấm dứt được hoàn toàn thời kỳ thiếu xi măng kéo dài, nhưng chúng ta lại chấm dứt "quá đà", khiến cho ngành xi măng giờ đây dờ sống dở chết.

Trước hết, hãy xem qua quy hoạch phát triển ngành xi măng đến năm 2010 tầm nhìn đến năm 2020 được Chính phủ phê duyệt qua Quyết định 108 vào năm 2005.

Quy hoạch này đặt mục tiêu “đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng xi măng trong nước, có thể xuất khẩu khi có điều kiện.  Như vậy, mục tiêu chính là đáp ứng "đủ" nhu cầu, còn xuất khẩu chỉ là thứ yếu. Quy hoạch còn nêu quan diểm “đầu tư các dự án xi măng phải bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội".

Từ mục tiêu vả quan niệm đó, bản quy hoạch đưa ra dự báo nhu cấu tiêu thụ cùa thị trường trong nưởc, với những con sô rất cụ thế cho tám vùng. Cụ thể, đến năm 2010 tống nhu cầu xi măng là gần 47 triệu tấn (phương án trung bình); năm 2015 tăng lên 62.5 triệu tấn và đạt 68-70 triệu tấn vảo năm 2020. Có thể khẳng định, những nhà làm quy hoạch đã dự báo khá chính xác nhu cầu xi măng của thị trường. Nếu quá trình đầu tư phát triến xi măng dược quản lý tốt, bám sát quy hoạch, thì đã hoàn thành mục tiêu và quan điếm đầu tư mà quy hoạch đặt ra. Nhưng thật đáng tiếc…

Năm 2006, năng lực sản xuất của ngành xi măng mới có 25 triệu tấn, thì tới năm 2010 đã vọt lên 65 triệu tấn. Đến cuối năm 2011, cả nước có 75 dây chuyền sản xuất xi măng theo công nghệ lò quay với công suất thiết kế 77 triệu tấn/năm. Nếu tính thêm một số nhà máy lỏ đứng và trạm nghiền, công suất của ngành lên xấp xi 80 triệu tấn. Ngoài ra, còn có các nhà máy xi măng Xuân Thảnh, Hệ Dưỡng chuẩn bị hoạt động.

Có thế khẳng định, quy hoạch ngành xi măng năm 2005 đà hoàn toàn bị phá vờ. Năng lực sàn xuất xi măng đi trước hơn 10  năm so với nhu cầu được đự báo trong bân quy hoạch ngành năm 2005. Có thể khẳng định khó khăn cúa ngành xi măng trong hiện tại và tương lai là một kết cục tất yếu. Đáng tiếc là dù đã dự báo được từ 4-5 năm trước, nhưng điều tệ hại vẫn xảy ra.

Vi sao?

Là cơ quan quân lý ngành, lỗi trước tiên thuộc về Bộ xây dựng. Quy hoạch xi măng năm 2005 bị một số địa phương xé rào, nhưng Bộ Xây dưng đã không ít lần “chiều” các địa phương, các doanh nghiệp, bật đèn xanh cho phép “bổ sung” quy hoạch.

Năm 2007, Bộ xây dựng đã có cơ hội rất tốt đế "siết" việc thực thi quy hoạch ngành xi măng, vào giữa năm 2007, trước thực tế số lượng dự án xi măng được cấp phép đã có công suất tới 35 triệu tấn dẫn đến năng lực sản xuất dự báo đến năm 2010 lên đến 60 triệu tấn, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Bộ xây dựng rà soát, kiểm tra việc triều khai thực hiện các dự án xi măng trong quy hoạch đã được duyệt và "tạm dừng bổ sung quỵ hoạch đối với các dự án đâu tư xây dựng nhà máy xi măng mới".

Thế nhưng, sau chỉ đạo đó, nhiều dự án mới vẫn được phê duyệt. Thậm chí, không ít dự án còn được Bộ Tài chính ký bảo lãnh đế vay vốn đầu tư. Thật khó hiểu! Không chi có thế, nhiều chủ đầu tư khổng có đủ 20% vốn tự có theo quy dinh, như xi măng Hoàng Mai vay 100%, Tam Diệp vay 98%, Thái Nguyên 93%... nhưng vẫn được duyệt, thậm chí còn được bão lãnh cho vay vốn. Có tới 17 dự án xi măng  đã được Bộ Tài chính ký bão lành cho chủ đầu tư vay vốn. Nếu nhà nước không bảo lãnh, liệu năng lực sàn xuất của xi măng cỏ phát triển phi mã như vậy không? 

Một nguyên nhân "chết người" khác của xi măng là đầu tư theo phong trào, với sợ hưởng ứng của nhiều tập đoàn, tống công ty nhà nước như Sông Đà, Vinaconex, Vinaincon đầu tư xi măng để trước hết là tự cung tự cấp. Rối những tập đoàn, tổng công ty ngoài ngành khác cùng lao vào làm xĩ măng như Tổng công ty Cơ khí xây dựng, Tổng cóng ty Máy và Thiết bị công nghiệp, tập đoán Công nghiệp Than và Khoáng san (TKV). Trong đó, TKV đã nhanh tay có tới ba nhà máy xi măng, trong khi vẫn luôn kêu gào không có vốn dầu tư cho khai thác than, đòi phải nâng giá bán than.

Trong số những công ty xi măng bên bờ vực phá sản, không ít đơn vị do thiếu kinh nghiệm tồ chức sản xuất và tiêu thụ sản phầm, vì là dân “ngoại đạo”. Theo ông Lê Văn Tới, nếu tổ chức sản xuất không tốt, vốn chủ sữ hữu thấp... dự án kể cả trong diều kiện bình thường cùng đã khó khăn, chưa nói tới bối cảnh vô cùng nghiệt ngã như hiện nay.

Một doanh nhân lâu năm trong ngành xi măng cay đắng nói, trước đâu nhiều doanh nghiệp phải “chạy” rất nhiều mã không nghĩ mình đang chạy vào chỗ chết. “Chạy đế được bố sung quy hoạch, chạy đề được bảo lãnh vay vốn, chạy để được chọn địa điếm thuận lợi (khai thác mỏ đá vôi, xây nhà máy)", ông nói.

Đáng buồn hơn, phong trào làm xi măng còn biến Việt Nam thành địa chi tiêu thụ thiết bị, công nghệ xi măng quá lạc hậu của Trung Quốc. Tổng giám đốc một công ty xi măng cho biết: "Những dây chuyền xi măng lò quay, nếu thấy công suất 900.000 đến 1 triệu tấn/ năm, chính là do Trung Quốc sản xuất và họ đã tuyên bố “đào thải”

Tóm lại. thảm trạng của ngành xi măng  hiện nay là hậu quả từ việc buông lỏng quản lý quy hoạch. Nếu năm 2007 Bộ Xây dựng  nắm lấy cơ hội từ chỉ đạo của Thủ tướng, siết lại việc đẩu tư vào xi măng, thậm chí ngưng phê duyệt dự án mới thì giờ đây ngành xi măng đã không bị khốn khó. 

Theo Tấn Đức

TBKTSG

thunm

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên