TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Nguồn nguyên liệu ngành thuỷ sản: Nhập khẩu hay tự cung cấp?

Nguồn nguyên liệu ngành thuỷ sản: Nhập khẩu hay tự cung cấp?
Đồng bằng sông Cửu long có thế mạnh về nghề nuôi thuỷ sản, nhưng do tổ chức thị trường không tốt, ngành thuỷ sản sẽ phải nhập nguyên liệu về chế biến.

Ngành chế biến thuỷ sản đang đối mặt với tình trạng thiếu nguyên liệu. Nhưng nhập nguyên liệu để đáp ứng nhu cầu chế biến là chuyện cần cân nhắc nhiều mặt.

Nhóm nghiên cứu gồm các cán bộ thuộc viện Nghiên cứu phát triển đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) – đại học Cần Thơ kết hợp với đại học Stirling (Scotland) đã thực hiện những nghiên cứu cho thấy trong năm năm liền, sản lượng cá không ngừng tăng nhưng giá cá luôn dao động bất thường. Biên độ lợi nhuận của cả người nuôi cá tra, ba sa lẫn tiểu thương và các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu đang dần bị thu hẹp.

Nhập nguyên liệu có lợi?

Lợi nhuận của người nuôi cá tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp và TP Cần Thơ đã giảm từ khoảng 2,8 triệu đồng/tấn cá vào thời điểm trước năm 2003 xuống còn khoảng hơn 1 triệu đồng/tấn năm 2005 do chi phí sản xuất tăng.

Nhà máy chế biến không coi người nuôi cá là lực lượng hậu cần của mình. Một tập đoàn của Nhật sang Cần Thơ xin thuê 10ha đất gần cảng Cần Thơ hoặc cảng Cái Cui làm kho lạnh cho rằng, nếu đầu tư cho kho lạnh – hậu cầu thì tình hình tiêu thụ cá quá lứa sẽ khác.
 
Trong khi đó nhiều nhà máy chế biến thuỷ sản có công suất lớn cho biết các kho lạnh hiện thời chỉ có sức chứa khoảng 10.000 tấn/kho nên chỉ đáp ứng nhu cầu của nội bộ doanh nghiệp.
 
Cả đồng bằng có 120 doanh nghiệp chế biến thuỷ sản xuất khẩu (công suất khoảng 3.200 tấn/ngày); trong đó có 74 doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn xuất hàng sang thị trường EU, nhưng nhiều doanh nghiệp phải thuê kho ở TP.HCM.
 
Ngoài ra, nghề nuôi cá tra khiến môi trường suy thoái. Hàng năm các ao nuôi thuỷ sản ở khu vực ĐBSCL thải ra không dưới 500 triệu mét khối bùn và chất thải chứa thức ăn dư thừa thối rữa bị phân hủy.
 
Một kịch bản tiêu cực xảy ra khi 1m3 thể tích ao để sản xuất 8kg cá cần tới 24m3 nước sạch để thay nước ao. Và cứ 1m3 nước từ ao cá thay ra cần xử lý với 0,033 – 0,035kg COD. Tuy vậy, khi đặt vấn đề xử lý nước ao cá thì 47% chủ ao nói họ sẽ bỏ nghề, 32% chủ ao xây bể xử lý, 21% chủ hộ dùng các biện pháp khác. Quy định đóng phí xả nước thải thì có số phản đối vì sợ làm tăng giá thành sản phẩm cá nuôi.

Như vậy, việc nuôi thuỷ sản như ở ĐBSCL thời gian qua đã thu nhỏ lợi nhuận của người nuôi và phình to những rủi ro, đặc biệt là về môi trường, nên việc nhập khẩu nguyên liệu thay thế có thể là chuyện đáng làm.

Cần… “làm lại”

Nếu xoá sổ nghề nuôi cá tra, hàng triệu con người sẽ tiếp tục lao đao tìm kỹ năng sống ở nơi được coi là “vương quốc cá, tôm”. Nhưng để tiếp tục nghề nuôi một cách bền vững, thiết nghĩ, trước hết cần trả lại sự trong lành của nguồn nước trên cơ sở chấp hành quy định bảo vệ môi trường.

Để có 1kg cá tra sẽ làm phát sinh 0,1kg COD cần xử lý. Trước đây chi phí đầu tư để xử lý 1kg COD là 1.508 đồng đối với hệ sục khí, 829 đồng đối với hệ lọc nhỏ giọt và 2.274 đồng đối với cánh đồng lọc. Cách xử lý hữu cơ giảm còn 151 đồng nếu áp dụng hệ sục khí; 83 đồng nếu áp dụng hệ lọc nhỏ giọt; 228 đồng nếu áp dụng hệ cánh đồng lọc.

Việc tăng chi phí cho xử lý môi trường có thể đươc bù đắp bằng ứng dụng công nghệ tạo ra giá trị tăng thêm. Hiện nay, giá mỡ cá tra đã chế biến giao tại nhà máy ở ĐBSCL là 15.000 đồng/kg, tại TP.HCM 16.300 – 16.500 đồng/kg.
 
Nhiều công ty lắp thiết bị chế biến mỡ cá tra có công suất 1.000 tấn mỡ cá tra/tháng, nhưng vẫn… cung không đủ cầu sau khi đã tinh luyện mỡ. Khi giá nhiên liệu từ dầu mỏ tăng, những lợi ích về môi trường mỡ cá tra có giá hơn.
 
Ngoài ra, tạo áp lực sàng lọc đồng thời dồn sức hoàn thiện công nghệ và hậu cần nghề cá theo hướng thắt chặt chuỗi giá trị để khởi động lại theo hướng chuẩn mực hơn là cần thiết. Đặc biệt, có công nghệ thích hợp để các “quan” địa phương, hiệp hội ngành nghề biết chính xác năng lực sản xuất và khả năng cung cấp của địa phương mình thì điều đó được tính như một trong những yếu tố bền vững.
 
Trong khi quy hoạch của bộ Thuỷ sản tới năm 2010 sản lượng cá tra, cá ba sa vùng ĐBSCL chỉ có một triệu tấn thì cách đây gần hai năm, tổng sản lượng cá tra nuôi đã gần 1,2 triệu tấn.
 
Theo Gia Khiêm
SGTT

thanhtu

CÙNG CHUYÊN MỤC
XEM