TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Nhà đầu tư Việt kiều đứng ở đâu?

  Nhà đầu tư Việt kiều đứng ở đâu?

Từ đây các nhà đầu tư được chơi trên một sân chơi chung.

Điều 3 Nghị định số 51/1999 quy định chi tiết thi hành Luật Khuyến khích đầu tư trong nước năm 1998 có ghi: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài có quyền lựa chọn áp dụng Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hoặc Luật Khuyến khích đầu tư trong nước cho dự án đầu tư của mình tại Việt Nam […]”. Đó chính là cơ sở pháp lý cho các dự án đầu tư của người Việt Nam định cư ở nước ngoài (Việt kiều) tại Việt Nam cho đến khi Luật Đầu tư 2005 có hiệu lực.

Nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập, ngày 29-11-2005, Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư trên cơ sở thống nhất Luật Khuyến khích đầu tư trong nước và Luật Đầu tư nước ngoài. Từ đây các nhà đầu tư được chơi trên một sân chơi chung và Nhà nước cam kết “đối xử bình đẳng trước pháp luật đối với các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế, giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài”.

Câu hỏi đặt ra là trong sân chơi đó, nhà đầu tư Việt kiều đứng ở đâu? Hay nói cách khác, nhà đầu tư Việt kiều được xem là nhà đầu tư trong nước hay nhà đầu tư nước ngoài? Phải chăng khi Luật Khuyến khích đầu tư trong nước 1998 không còn hiệu lực thì “quyền lựa chọn” của nhà đầu tư Việt kiều cũng không còn và họ được xem là nhà đầu tư nước ngoài?

Trả lời cho câu hỏi này có ý nghĩa quan trọng khi nguyên tắc bình đẳng giữa các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế chỉ mang tính tương đối. Bởi theo Luật Đầu tư 2005, thủ tục đăng ký đầu tư vẫn có sự khác biệt giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.

Ví dụ, đối với các dự án đầu tư trong nước có quy mô nhỏ (dưới 15 tỉ đồng) và không thuộc Danh mục lĩnh vực đầu tư có điều kiện thì nhà đầu tư không phải làm thủ tục đăng ký đầu tư mà chỉ đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp. Nhưng cũng dự án đó, nếu có vốn đầu tư nước ngoài thì nhà đầu tư phải làm thủ tục đăng ký đầu tư để được cấp giấy chứng nhận đầu tư. Đó là chưa kể các văn bản pháp luật chuyên ngành có thể khống chế mức cổ phần mà nhà đầu tư nước ngoài được phép sở hữu trong một số lĩnh vực như hàng hải, bảo hiểm, viễn thông…

Theo điều 3 Luật Đầu tư 2005, nhà đầu tư nước ngoài được định nghĩa là các “tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam”. Và cũng tại điều này, khi liệt kê các tổ chức, cá nhân được xem là nhà đầu tư, đã tách bạch rõ hai khái niệm: “tổ chức, cá nhân nước ngoài” và “người Việt Nam định cư ở nước ngoài”. Có thể thấy, theo tinh thần của Luật Đầu tư 2005, người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi đầu tư tại Việt Nam sẽ không mặc nhiên bị xem là nhà đầu tư nước ngoài.

Ngoài ra, khi quy định các giấy tờ chứng thực cá nhân trong hồ sơ đăng ký kinh doanh, điều 18 Nghị định số 88/2006 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh cũng phân biệt rạch ròi giữa người Việt Nam định cư ở nước ngoài và người nước ngoài.

Theo quy định này, trong trường hợp không còn hộ chiếu Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài có thể sử dụng hộ chiếu nước ngoài kèm theo một trong sáu giấy tờ sau để đăng ký kinh doanh: giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam, giấy xác nhận mất quốc tịch Việt Nam, giấy xác nhận đăng ký công dân, giấy xác nhận gốc Việt Nam, giấy xác nhận có gốc Việt Nam hoặc giấy xác nhận có quan hệ huyết thống Việt Nam.

Gần đây, ngày 15-4-2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/2010 thay thế Nghị định số 88/2006 về đăng ký kinh doanh và vẫn tiếp tục quy định theo hướng trên. Trước khi Luật Đầu tư 2005 ra đời, thủ tục tương tự như thế cũng đã được áp dụng đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi muốn thành lập doanh nghiệp và đầu tư theo hình thức đầu tư trong nước. Khi xuất trình được một trong số các giấy tờ kể trên, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được xem là nhà đầu tư trong nước.

Như vậy, các quy định pháp luật về đầu tư và thành lập doanh nghiệp sau khi Luật Đầu tư 2005 ra đời đã có sự kế thừa các quy định của Luật Khuyến khích đầu tư trong nước trước kia đối với các nhà đầu tư là người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Luật Khuyến khích đầu tư trong nước đã hết hiệu lực nhưng nguyên tắc mà luật này đặt ra cho các dự án đầu tư của người Việt Nam định cư ở nước ngoài vẫn được kế tục.

Khi làm thủ tục đầu tư và đăng ký kinh doanh tại Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài có quyền lựa chọn. Trong trường hợp chỉ xuất trình hộ chiếu nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài sẽ được xem là nhà đầu tư nước ngoài. Trái lại, nếu xuất trình hộ chiếu Việt Nam hay hộ chiếu nước ngoài kèm theo giấy tờ chứng minh nguồn gốc Viêt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài sẽ được xem là nhà đầu tư trong nước.

Việc nhận thức và áp dụng thống nhất tinh thần này của Luật Đầu tư 2005 tại các cơ quan đăng ký kinh doanh sẽ giúp khơi thông những bế tắc và thúc đẩy hơn nữa việc thu hút nguồn vốn của người Việt Nam định cư ở nước ngoài cho công cuộc phát triển kinh tế đất nước.

Theo Lâm Văn Triển
Thời báo kinh tế Sài Gòn

 

ngocdiep