TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Nợ đọng bất động sản và hàng tồn kho - Mối lo không của riêng ai

Nợ đọng bất động sản và hàng tồn kho - Mối lo không của riêng ai

Bất hạnh lớn nhất, nếu không nói là thảm họa, khi doanh nghiệp không bán được hàng và sản phẩm của mình bị “trùm chăn, đắp chiếu” trong kho hay dãi nắng, dầm mưa ngoài trời.

Là một chuyên gia kinh tế có uy tín, Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong đã nhiều lần luận giải về các vấn đề "nóng" của nền kinh tế Việt Nam trên Báo Quân đội nhân dân. Loạt bài viết này, dưới góc nhìn của mình,Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong đã chỉ rõ thực trạng, phân tích nguyên nhân và bước đầu tìm lời giải làm tan ba "cục máu đông" của kinh tế Việt Nam hiện nay, đó là: Hàng tồn kho, nợ xấu ngân hàng và khó khăn về tài chính của doanh nghiệp.Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Nợ đọng bất động sản và hàng tồn kho - Mối lo không của riêng ai

Theo Tổng cục Thống kê, trên thế giới có nhiều loại chỉ số tồn kho, như chỉ số tồn kho so với tổng mức sản lượng, tồn kho so với công suất thiết kế, tồn kho so với khả năng tiêu thụ và chỉ số tồn kho so với số liệu cùng kỳ năm trước… Việt Nam hiện đang dùng và công bố chỉ số tồn kho so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số hàng tồn kho-thực tế có nặng nề như cách tính?

Trong suốt 10 năm (2000-2010), tồn kho luôn chiếm từ 3 đến 5% trong tổng sản phẩm nội địa (GDP). Riêng năm 2011, số liệu ước tính của Tổng cục Thống kê cho thấy, tồn kho cũng chỉ chiếm khoảng 3,2% trong GDP, đây là mức thấp nhất từ năm 2007 đến nay.

Song, bước sang năm 2012, chỉ số tồn kho tăng mạnh. Tổng cục Thống kê cho rằng, chỉ số tồn kho được thống kê theo thông lệ quốc tế tại thời điểm ngày 1-10-2012 của ngành công nghiệp chế biến tăng 20,3% so với cùng thời điểm năm trước và đã có xu hướng giảm dần trong mấy tháng gần đây (thời điểm 1-5 tăng 29,4%; 1-6 tăng 26%; 1-7 tăng 21%; 1-8 tăng 20,8%; 1-9 tăng 20,4%). Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao, gồm: Chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm thủy sản tăng 23,9%; sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản tăng: 32%; may trang phục tăng 48%; sản xuất phân bón và hợp chất ni-tơ tăng 55,1%; sản xuất sản phẩm từ plastic tăng 56,5%; sản xuất xi măng tăng 53,1%; sản xuất sắt, thép, gang tăng 38%....

Tuy vậy, dưới góc độ kinh tế ngành, chỉ số thống kê tồn kho so với cùng kỳ năm trước có vẻ như gây cảm giác nặng nề hơn thực tế. Ví dụ, theo báo cáo của Bộ Xây dựng, trong 10 tháng đầu năm 2012, sản xuất xi măng đạt 46,5 triệu tấn so với kế hoạch cả năm (56 triệu tấn), tương ứng đạt được 80% kế hoạch, tồn kho xi măng vào khoảng 2,6 triệu tấn, tương đương 15-18 ngày sản xuất. Đây là một con số bình thường, do đặc thù của ngành là luôn luân chuyển sản xuất. Trong khi, theo Tổng cục Thống kê, con số tồn kho so với cùng kỳ năm trước tăng những 51,3%, tạo lo ngại xã hội là dư thừa lớn.

Với lý do đó, để có bức tranh về tồn kho các mặt hàng sát với thực tế hơn, có lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đề nghị Tổng cục Thống kê nên tính toán bổ sung và công bố thêm chỉ số thống kê hàng tồn kho so với tổng sản lượng.

Nợ đọng bất động sản-con số mù mờ nhất!

Nợ đọng bất động sản và do đó là nợ xấu, hiện là con số lớn, nhưng khó có con số chính xác (có thể lên tới cả triệu tỷ đồng, tức 50% dư nợ ngân hàng như cảnh báo của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, hay chỉ 5% tổng dư nợ ngân hàng như lời giải thích của Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Đồng Tiến). Điều này là do những biến động thường xuyên của giá cả thị trường bất động sản, do sai số cố tình (vì lợi ích của đơn vị mình) hay cách tính toán kỹ thuật khác nhau giữa các tổ chức, ngân hàng và cơ quan quản lý...

Báo cáo của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia ước tính, khu vực bất động sản đã được các ngân hàng bơm gần 350 nghìn tỷ đồng, tương đương hơn 17 tỷ USD. Đó là chưa tính dư nợ bất động sản được rót cho các dự án “ma” và các khoản cho vay ẩn tên khác khó hoặc không thể thu hồi được.

Ngoài ra, còn có khoảng 93 nghìn tỷ đồng nợ đọng xây dựng cơ bản từ nguồn đầu tư ngân sách, do các doanh nghiệp vay ngân hàng để xây dựng và đã hoàn tất công trình, nhưng chưa được thanh toán. Năm 2011, tổng số nợ vốn đầu tư của 63 tỉnh,thành phố là 91.273 tỷ đồng của 47.209 dự án; trong đó, nợ vốn các công trình xây dựng cơ bản đã hoàn thành là 25.423 tỷ đồng, nợ vốn của 20.921 dự án đang triển khai là 65.850 tỷ đồng, giãn tiến độ 41 dự án với tổng số vốn là 38.320 tỷ đồng.

Theo Ngân hàng Nhà nước, tính đến cuối tháng 8-2012, tổng nợ cho vay của toàn ngành ngân hàng đạt 2,88 triệu tỷ đồng, trong đó lĩnh vực công nghiệp và xây dựng chiếm khoảng 40% tổng dư nợ. Có thể thấy, về tổng thể nền kinh tế, chí ít cũng có tới hàng triệu tỷ đồng vốn đang bị ứ đọng trong bất động sản và hàng hóa tồn kho, tập trung nhiều nhất là ởTP Hà Nội vàTP Hồ Chí Minh.

Cần nhấn mạnh rằng, hiện nay, vấn đề quan trọng liên quan đến niềm tin thị trường hơn là sự định giá thị trường. Một khi niềm tin thị trường suy giảm, nền kinh tế sẽ bị ảnh hưởng không nhỏ.

Thông tin bị che giấu bớt, các chỉ số rủi ro của ngân hàng theo báo cáo thì giảm, nhưng mức độ rủi ro sẽ cao hơn nhiều so với dự tính và có thể gây tác hại rất nghiêm trọng, làm mất lòng tin vào sự minh bạch trong hoạt động của các ngân hàng và thị trường, giảm sút động lực đầu tư xã hội với các hệlụy dây chuyền khác...

Liều thuốc công khai, minh bạch

Bất hạnh lớn nhất, nếu không nói là thảm họa, khi doanh nghiệp không bán được hàng và sản phẩm của mình bị “trùm chăn, đắp chiếu” trong kho hay dãi nắng, dầm mưa ngoài trời. Dù với bất kỳ lý do nào thì điều này cũng đồng nghĩa với việc đứt gẫy trong chuỗi giá trị và chu kỳ tái sản xuất xã hội, sự trì trệ và thu hẹp thị trường, khiến doanh nghiệp không thu hồi được vốn sản xuất và giảm khả năng tái sản xuất mở rộng, gia tăng áp lực thanh khoản, trả nợ lãi vay và giảm lợi nhuận, thậm chí là phá sản cho con nợ hoặc chủ hàng, nhà đầu tư, kể cả chủ nợ; đồng thời, kéo theo áp lực tăng trưởng chung nền kinh tế, việc làm và an sinh xã hội.

Nợ đọng bất động sản và hàng tồn kho càng để lâu sẽ càng tăng nhanh, thiệt hại càng lớn, nhất là khi các doanh nghiệp phải gánh trên vai những lãi suất vay siêu cao so với thế giới và so với lợi nhuận trung bình của doanh nghiệp.

Vì vậy, tập trung xử lý nợ đọng bất động sản và hàng tồn kho, giảm thiểu nợ xấu phải là trách nhiệm chung của xã hội và toàn hệ thống chính trị, song trước hết của các doanh nghiệp, nhà đầu tư, tổ chức tín dụng và của các cơ quan hữu quan, tiêu biểu là Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính.

Trước hết, cần xúc tiến các giải pháp tạo hấp dẫn và tăng nhu cầu thị trường cho hàng tồn kho, cải thiện môi trường đầu tư, giảm thuế, giảm tiền thuê đất, giảm chi phí tài chính doanh nghiệp; cơ cấu lại sản phẩm hàng hóa sản xuất và bất động sản, thu hẹp kích cỡ căn hộ và giảm giá bán. Đồng thời, Nhà nước cần có lộ trình chính thức, công khai và minh bạch về bảo đảm thanh toán số nợ đọng xây dựng cơ bản hiện có ở các cấp ngân sách, chỉ triển khai các dự án mới trong thời gian tới khi bảo đảm nguồn vốn tương ứng, tránh phát sinh nợ đọng mới.

Các doanh nghiệp cần chủ động tái cơ cấu nợ và hoạt động kinh doanh, cũng như bộ máy quản lý của mình để giảm chi phí, tăng cường khả năng quản trị rủi ro, năng lực cạnh tranh và phản ứng thị trường.

Biện pháp quản lý đặc biệt, kiểm soát hoặc cho dừng hoạt động, sáp nhập và thậm chí là phá sản đối với những ngân hàng, doanh nghiệp yếu kém là cần thiết và cần làm đúng quy trình pháp lý, bảo đảm sự minh bạch và giảm thiểu các hệ quả kinh tế-xã hội tiêu cực chung. Đặc biệt, cần phòng tránh sự lạm dụng và ỷ lại vào tinh thần chưa thực hiện ngay việc phá sản đối với các tổ chức tín dụng theo Đề án 254 tái cấu trúc lại hệ thống ngân hàng đã được Chính phủ phê duyệt; cũng như cần có cơ chế hợp lý, bám sát nguyên tắc thị trường cho các hoạt động của thị trường mua bán nợ quốc gia trong thời gian tới.

Ngân hàng Nhà nước cần có các quy định cụ thể, an toàn hơn về việc kiểm soát hoạt động tín dụng, hạn chế việc cho vay rủi ro, sở hữu chéo và tăng cường tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng cố tình giữ tỷ lệ nợ xấu thấp hơn thực tế như hiện nay; tăng cường thanh tra, giám sát và công khai hóa, minh bạch hóa những số liệu chính thức về nợ ngân hàng và hàng tồn kho doanh nghiệp...

Theo Tiến sĩ Nguyễn Minh Phong

QĐND

thanhhuong

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên