TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Phát triển nhanh và bền vững Đồng bằng sông Cửu Long

Phát triển nhanh và bền vững Đồng bằng sông Cửu Long

Sáng 22/4, tại thành phố Cần Thơ, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ phối hợp với Cổng TTĐT Chính phủ và VTV Cần Thơ tổ chức tọa đàm trực tuyến “Phát triển nhanh và bền vững Đồng bằng sông Cửu Long”.

Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết 21 của Bộ Chính trị, diện mạo của vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã có rất nhiều thay đổi. Sân bay, cầu, đường giao thông được đầu tư xây dựng. Bên cạnh đó, Nhà nước đã có những chính sách đảm bảo đời sống cho người nông dân, từng bước nâng cao thu nhập trên diện tích đất của mình thông qua các mô hình sản xuất như trồng lúa, nuôi cá...

Có quá nhiều thành tựu đáng tự hào, thưa ông Bùi Ngọc Sương- Phó Trưởng ban - Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ, theo ông đâu là những thành tựu quan trọng, nổi bật nhất trong phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL 10 năm qua? Đây là câu hỏi được rất nhiều người dân quan tâm.

Ông Bùi Ngọc Sương: Trong 10 năm qua, có thể nói thành tựu hạ tầng là quan trọng nhất. Nguồn vốn đầu tư đã tập trung cho 3 khâu đột phá là giao thông, thủy lợi, giáo dục đào tạo và y tế, an sinh xã hội. Từ đó, tương trưởng của vùng gần 12% mỗi năm trong 10 năm qua, quy mo GDP gấp 3,5 lần, thu nhập bình quân đầu người tăng 2,5 lần, Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, giảm dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp và tăng dần khu vực 2 và 3.

Đó là kết quả của sự nỗ lực rất lớn của cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân trong vùng, các chủ trương, chính của Đảng và Nhà nước đã đi vào cuộc sông, sự tập trung chỉ đạo của các bộ ngành Trung ương.

Đạt được những kết quả như vậy, Đồng bằng sông Cửu Long đã nhận được sự quan tâm rất thiết thực từ phía các bộ, ngành trung ương. Trên từng lĩnh vực cụ thể, các khách mời của chương trình sẽ có đôi nét nhận xét về sự phát triển này. Trước là hết xin mời Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát.

Ông Cao Đức Phát: Trong hơn 10 năm qua, thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ, Nhà nước đã đầu tư lớn cho công tác thuỷ lợi vùng đồng bằng sông Cửu Long với hơn 15.000 tỷ đồng để hoàn thành 73 dự án gồm xây dựng kênh mương, cống đập thoát lũ, tăng khả năng cấp nước, tưới, ngăn mặn, tạo điều kiện thuận lợi phát huy thế mạnh nông nghiệp của vùng.

Ông Cao Đức Phát - Ảnh Chinhphu.vn

Nhờ vậy sản lượng lúa đã tăng hơn 6 triệu tấn (36%), sản lượng cây ăn trái tăng lên 1 triệu tấn (40%), đặc biệt, sản lượng thuỷ sản tăng 2,5 lần, riêng thuỷ sản nuôi trồng tăng 5,3 lần. Đây là sự tăng trưởng vượt bậc của vùng.

Ông Phạm Vũ Luận: Lĩnh vực giáo dục 10 năm qua, Đảng, Nhà nước rất quan tâm, đầu tư cho lĩnh vực giáo dục đào tạo vùng đồng bằng sông Cửu Long. Chỉ riêng chương trình kiên cố hoá trường lớp giai đoạn 2008-2010, Chính phủ đã đầu tư 2.600 tỷ đồng.

Các chương trình mục tiêu quốc gia giáo dục đào tạo, các dự án của bộ đều coi vùng này là vùng trọng điểm, ưu tiên trên tất cả lĩnh vực, đầu tư cơ sở vật chất, đào tạo giáo viên, hỗ trợ học sinh sinh viên, hỗ trợ giáo dục dân tộc. Chúng tôi rất vui mừng nhận thấy, mạng lưới trường lớp của giáo dục và đào tạo đồng bằng sông Cửu Long có bước tăng trưởng nhanh. Giáo dục mầm non tăng 685 trường (73%), giáo dục tiểu học tăng 179 trường (5,6%), trung học cơ sở tăng 230 trường (18,9%) và các trường trung học phổ thông tăng 68 trường (18,9%).

Về các trường đại học và cao đẳng, hiện vùng có 12 trường đại học với 1 phân hiệu Đại học Nha Trang tại Kiên Giang và 27 trường cao đằng. Về cơ bản các tỉnh trong vùng đều có cơ sở đào tạo cao đẳng và một số nơi có cơ sở đại học. Quy mô sinh viên chính quy hiện trên 118.000 SV, tăng 1,6 lần so với 2002, các cháu sinh viên là người của các địa phương đồng bằng sông Cửu Long mà học trên cả nước năm 2010 là 57.200 SV, tăng 2,7 lần so với 2002.

Cả 13 tỉnh trong vùng đã phổ cập xong tiểu học và chống mù chữ. Về phổ cập tiểu học đúng độ tuổi, nếu như năm 2003 là chưa tỉnh nào trong vùng đạt được thì đến 12/2010, đã có 12/13 tỉnh đạt được. Phổ cập trung học cơ sở, cuối 2008, cả 13 tỉnh đều đã đạt. Kỳ thi học sinh giỏi quốc gia 2011, các cháu học sinh của các tỉnh trong vùng đã đạt 172 giải. Các con số trên phần nào nói lên sự tiến bộ phát triển của giáo dục đào tạo trong vùng.

Thứ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải Ngô Thịnh Đức - Thành viên Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ: Trong 10 năm qua, ngành Giao thông vận tải tại ĐBSCL đã được tập trung đầu tư lớn. Về đường bộ thì toàn bộ hệ thống cầu trên Quốc lộ 1 đã xong, chúng ta có thể đi thẳng từ Lạng Sơn về Năm Căn. Thứ hai, đã nâng cấp trên 27 ngàn km đường các loại, với tổng kinh phí đầu tư của Nhà nước cho khu vực lên tới 75 ngàn tỷ đồng trong 233 ngàn tỷ đồng cả nước, chiếm trên 33%.

Hệ thống đường bộ đã kết nối liên vùng, chúng ta đã xây dựng tuyến Nam Sông Hậu, tuyến Phụng Hiệp, đang xây dựng tuyến xuyên Đồng Tháp Mười, sắp tới sẽ kết nối bằng các cầu Vàm Cống, Cao Lãnh.

Đường thủy là một lợi thế của ĐBSCL, chiếm 60, 70% khối lượng vận tải hàng hóa. Chúng ta đã xây dựng tuyến TPHCM-Kiên Lương, TPHCM-Càu Mau, đang xây dựng tuyến Đồng Tháp Mười qua vùng tứ giác Long Xuyên… Chúng ta xây dựng cảng Cái Cui, luồng tàu biển với sông Hậu…

Thứ ba, chúng ta đã đầu tư xây, dựng, hoàn chỉnh sân bay Cần Thơ để có thể tiếp nhận máy bay lớn, sân bay Cà Mau, Phú Quốc….

Trong 10 năm qua, bộ mặt giao thông vận tải của vùng đã chuyển biến rất lớn và giúp các ngành khác phát triển.

Ông Phạm Vũ Luận - Ảnh Chinhphu.vn

Ba địa phương Cần Thơ, An Giang và Hậu Giang đều được đánh giá là có những bước chuyển mình khá rõ nét sau 10 năm thực hiện Nghị quyết 21 của Bộ Chính trị. Từ góc nhìn địa phương, sau 10 năm, đâu là những đổi thay rõ nét nhất trong phát triển kinh tế - xã hội? Trước hết xin mời ông Nguyễn Thanh Sơn- Phó Bí thư Thành Ủy - Chủ tịch UBND thành phố Cần Thơ.

Ông Nguyễn Thanh Sơn: Về thành tựu 10 năm thực hiện Nghị quyết, tôi rất đồng tình với nhận định mà các đại biểu vừa nêu.

Thành tựu đầu tiên thể hiện rõ nét nhất là đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật, ngoài đầu tư đường bộ, thuỷ, cảng. Tại Cần Thơ còn xuất hiện trung tâm nhiệt điện Ô môn và tổ máy số 1 đã đưa vào hoạt động.

Còn các công trình khác như Cảng Cái Cui, một số đường vừa của Cần Thơ, có tác động lan toả như quốc lộ 91, đường nối Nhị Thanh-Cần Thơ… các công trình này đã hoàn thành và đưa vào sử dụng.

Bên cạnh việc đầu tư cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội cũng được nâng 1 bước. Về giáo dục thì như Bộ trưởng Phạm Vũ Luận đã nói.

Về y tế cũng có bước đầu tư phát triển đáng kể. Đầu tư đào tạo nguồn nhân lực, hiện Cần Thơ sau khi thực hiện Nghị quyết 21, có thêm 3 trường đào tạo nguồn nhân lực là chi nhánh của Đại học Kiến trúc của TPHCM, Đại học Tây Đô, Học viện chính trị 4. Chính những nhân tố này đã góp phần tích cực phát triển kinh tế-xã hội thành phố cũng như cả vùng.

Riêng những nhân tố này đã tác động rất lớn đến phát triển thành phố Cần Thơ. Về tốc độ phát triển 10 năm qua của Cần Thơ, bình quân tăng 14,3%/năm, thu nhập bình quân đầu người tăng 6 lần so với 2001 và đạt mức gần 50 triệu đồng/người năm 2011.

Phải nói rằng, Nghị quyết 21 đã tác động lớn với thành phố, tạo điều kiện để cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực (khu vực 1 chiếm hơn 11%, khu vực 2 chiếm 43%, khu vực 3 chiếm hơn 45%). TP cũng chính thức được công nhận là đô thị loại 1.

Xin được hỏi về vai trò, chức năng và những đóng góp của Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ trong phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL? “. Với câu hỏi này, một lần nữa xin mời ông Bùi Ngọc Sương. 

Ông Bùi Ngọc Sương: Theo Quy định 89 của Bộ Chính trị, chức năng nhiệm vụ của BCĐ Tây Nam Bộ là giúp Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, kiểm tra đôn đốc các bộ, ngành Trung ương thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Trung ương, Chính phủ đối với vùng; đồng thời nghiên cứu, tham mưu, đề xuất để Trung ương, Chính phủ ban hành các cơ chế, chính sách cho vùng.

Ông Ngô Thịnh Đức - Ảnh Chinhphu.vn

Thời gian qua, BCĐ đã phối hợp với các bộ, ngành, các địa phương thực hiện các chủ trương, chính sách, sơ kết, tổng kết các nghị quyết, quyết định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ với vùng, đề xuất các cơ chế chính sách, định hướng phát triển mới.

Đặc biệt, từ 2007 đến nay, BCĐ phối hợp với các bộ, ngành, các địa phương và TPHCM tổ chức diễn đàn hợp tác kinh tế ĐBSCL, tại đây nhiều vấn đề được đặt ra để kiến nghị với Đảng, Nhà nước đưa ra những cơ chế, chính sách phù hợp hơn với vùng…

Thông qua các chính sách liên kết vùng, đầu mối phối hợp chỉ đạo, kiểm tra đôn đốc, tham mưu đề xuất cơ chế, chính sách …của Ban chỉ đạo Tây Nam bộ, các địa phương trong vùng cho biết thêm về những đóng góp của Ban chỉ đạo Tây Nam bộ đối với sự phát triển của địa phương mình nói riêng và cả vùng nói chung. Xin mời lãnh đạo các tỉnh, thành phố. 

Ông Vương Bình Thạnh: Qua ý kiến của khán giả và ông Bùi Ngọc Sương, đã thể hiện rõ vị trí vai trò chức năng, cơ chế hoạt động của Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, thực hiện theo Quy định 89 của Bộ Chính trị. Có thể nói thời gian qua, Ban chỉ đạo đã cùng với các địa phương, bộ ngành trung ương giúp Bộ Chính trị triển khai các nghị quyết, chỉ thị và quyết định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư cũng như của Thủ tướng Chính phủ.

Thời gian qua tôi thấy, thực hiện nhiệm vụ này, 10 năm qua, Nghị quyết 21 của Bộ Chính trị được cụ thể hoá tốt nhất thông qua 3 đột phá. Các đột phá này được thể hiện bằng 3 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Về lĩnh vực giao thông có Quyết định 344, về giáo dục đào tạo có Quyết định 20, về thuỷ lợi có Quyết định 84.

Cũng như chúng ta vừa nghe, trong 10 năm qua, từ khi có sự tác động, thúc đẩy của Ban chỉ đạo Tây Nam bộ, sự đầu tư phát triển được tăng cường như giao thông được đầu tư hơn 75.000 tỷ đồng, nông nghiệp hơn 15.000 tỷ đồng,  giáo dục hơn 2.600 tỷ đồng. 3 đột phá này từ khi có sự chỉ đạo của Ban chỉ đạo, sự phối hợp giữa các bộ, ngành với địa phương từng bước thúc đẩy nhanh hơn.

Gần đây, bức xúc của đồng bằng sông Cửu Long như chúng ta biết là vấn đề tiêu thụ sản phẩm. Giải quyết vấn đề này có Quyết định 80 của Thủ tướng Chính phủ, mặc dù việc thực hiện còn khó khăn.

Trong xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta không thể nào đi riêng lẻ, mà phải có sự liên kết vùng. Vùng đồng bằng sông Cửu Long cần có tiếng nói chung, tập trung, có một cơ chế chính sách để tạo liên kết vùng, thúc đẩy phát triển. Thời gian qua chúng ta đã thấy có sự chuyển biến tích cực.

Đối với An Giang, từ khi ban hành QĐ 80, chính sách này được thực hiện tốt, tính liên kết tiêu thụ sản phẩm của nông dân tăng lên, điển hình như mô hình cánh đồng mẫu, đây là mô hình lý tưởng cho định hướng trong tương lai, thúc đẩy không những cho trong vùng mà còn áp dụng cho cả nước.

Theo Cổng TTĐT Chính phủ

cucpth

CÙNG CHUYÊN MỤC
XEM