TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Quy mô kinh tế của Vĩnh Long tăng gấp 5 lần trong 20 năm

Quy mô kinh tế của Vĩnh Long tăng gấp 5 lần trong 20 năm

Thu nhập bình quân đầu người của tỉnh liên tục tăng; từ 1,51 triệu đồng (giá hiện hành) năm 1992 lên mức 28,24 triệu đồng năm 2011, tăng gấp 18 lần so với năm 1992

Qua 20 năm xây dựng và phát triển (từ năm 1992 đến nay), Đảng bộ và nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã không ngừng nỗ lực vượt qua khó khăn, thử thách, đoàn kết phát huy nội lực, huy động tối đa mọi nguồn lực để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, xây dựng Vĩnh Long giàu đẹp.

Năm 1992, Vĩnh Long ra đời trên cơ sở Cửu Long được chia tách thành 2 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh. Bước đầu khi mới được tái lập, Vĩnh Long gặp không ít khó khăn về tổ chức bộ máy, xuất phát điểm thấp, song Đảng bộ và nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã vận dụng sáng tạo các chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước, phù hợp với thực tiễn của địa phương, đưa tỉnh nhà từng bước phát triển đi lên.

Những thành tích đạt được

Ông Nguyễn Văn Diệp, Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long cho biết, tỉnh đã đạt được những thành tựu quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, nổi bật là:

Trên lĩnh vực phát triển kinh tế: trong cả giai đoạn từ năm 1992 đến hết năm 2011, tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt bình quân 8,7%/năm, quy mô nền kinh tế năm 2011 tăng gấp 5 lần so với năm 1992; khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản có tốc độ tăng bình quân 5,41%/năm; khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 14,58%/năm; khu vực dịch vụ tăng 11,02%/năm.

Tỉnh đã xác định phát triển kinh tế chủ yếu trên cơ sở phát triển công nghiệp và dịch vụ. Vì vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng dần tỷ trọng của công nghiệp - xây dựng - dịch vụ và giảm dần tỷ trọng nông nghiệp trong GDP của tỉnh là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế. Đến nay, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh diễn ra theo hướng tích cực, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế đề ra, trong đó, khu vực nông nghiệp giảm 17,63%, công nghiệp tăng 6,68%, dịch vụ tăng 10,95% so với năm 1992.

Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã kích thích chuyển dịch cơ cấu lao động tích cực và đúng hướng; lao động khu vực nông nghiệp giảm 6,65%; khu vực công nghiệp, xây dựng tăng 1,75% và dịch vụ tăng 4,9%.

Giá trị sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản (theo giá cố định năm 1994) tăng bình quân 5,27%/năm. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp trong 20 năm qua đạt bình quân 16%/năm. Giá trị các ngành thương mại- dịch vụ tăng bình quân 12,4%/năm.

Thu nhập bình quân đầu người của tỉnh liên tục tăng; từ 1,51 triệu đồng (giá hiện hành) năm 1992 lên mức 28,24 triệu đồng năm 2011, tăng gấp 18 lần so với năm 1992; tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người trong 20 năm đạt 12,36%/năm.

Tình hình huy động vốn đầu tư phát triển trên địa bàn có nhiều tiến bộ đáng ghi nhận. Nếu năm 1992, toàn tỉnh huy động được 403.017 triệu đồng, thì năm 2011 con số này đạt 8.259.400 triệu đồng, tăng gấp hơn 20 lần; tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 1992 - 2011 đạt 17,62%/năm. Tỷ lệ huy động vốn so với GDP cũng tăng khá nhanh, đạt 33,58%.

Năm 2011, thu ngân sách trên địa bàn đạt 2.300 tỷ đồng, tăng 2.189 tỷ đồng (gấp 20,7 lần) so với năm 1992 (111 tỷ đồng). Tỷ lệ chi cho đầu tư phát triển chiếm 30,65%. Hệ thống tài chính - tín dụng phát triển, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Trên địa bàn tỉnh, hiện có 20 ngân hàng thương mại đang hoạt động với doanh số cho vay tăng bình quân 24%/năm và đều thực hiện tốt chương trình cho vay hỗ trợ lãi suất, góp phần phát triển sản xuất - kinh doanh.

Đến năm 2011, toàn tỉnh có hơn 2.820 doanh nghiệp (DN) thuộc các thành phần kinh tế được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, tăng gấp 4,1 lần so với năm 2000 (683 DN). Trong đó, có 10 dự án FDI, với tổng vốn đăng ký 77 triệu USD. Năm 2010, các DN đã giải quyết việc 604.095 lao động trên địa bàn, tăng 40,4 lần so với năm 2000 (14.903 lao động).

Kinh tế trang trại tiếp tục phát triển cả về số lượng, quy mô lẫn đa dạng hóa loại hình sản xuất. Tính đến năm 2010, toàn tỉnh có 529 trang trại, tăng 184 trang trại, tăng 3,8 lần về vốn sản xuất và 5,6 lần về giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ so với giai đoạn 2001-2005.

Tuy chưa mạnh về kinh tế, nhưng trong 20 năm qua, tỉnh đã tập trung đầu tư cho các lĩnh vực xã hội, nên chỉ số phát triển con người (HDI) của Vĩnh Long là 0,695 ngang bằng với chỉ số HDI bình quân của cả nước (0,696) và cao hơn chỉ số HDI của vùng đồng bằng sông Cửu Long - ĐBSCL  (0,669). Như vậy, xét về HDI, Vĩnh Long đứng thứ 13 trong 63 tỉnh, thành phố của cả nước và đứng đầu  ở khu vực ĐBSCL.

Lĩnh vực văn hóa - xã hội có chuyển biến tích cực. Công tác xóa đói, giảm nghèo đạt kết quả tốt, tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới chỉ 7,99%.

Một số tồn tại

Bên cạnh những thành tích trên, Vĩnh Long còn bộc lộ một số hạn chế, như tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng; chưa tạo ra được bước đột phá mạnh trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế; hiệu quả sản xuất - kinh doanh trên một số lĩnh vực chưa cao, sức cạnh tranh còn yếu…

Đây là những hạn chế mà tỉnh đang nỗ lực khắc phục  trong thời gian tới.

Các mục tiêu và giải pháp

Tỉnh đã đề ra những  định hướng, giải pháp thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - văn hóa - xã hội - an ninh quốc phòng cho giai đoạn tiếp theo.

Quy hoạch Phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Long đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phù hợp với Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, vùng ĐBSCL; bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với quy hoạch các ngành, lĩnh vực.

Các mục tiêu cũng được vạch ra. Đó là phát huy tối đa những tiềm năng, thế mạnh của tỉnh; tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế; từng bước củng cố nội lực, giảm thiểu thách thức tiến tới hình thành một cơ cấu kinh tế tiên tiến, mang hướng mở, cân đối và có sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước.

Phát triển kinh tế gắn với phát triển y tế, văn hóa, giáo dục, đào tạo, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân, giảm dần tỷ lệ hộ nghèo; tập trung đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị trường...

Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự an toàn xã hội. Đồng thời, xây dựng Vĩnh Long thành vùng đô thị sinh thái, xanh, sạch, đẹp, phát triển hài hòa giữa đô thị và nông thôn; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; đẩy mạnh phát triển công nghiệp và dịch vụ theo hướng công nghệ và chất lượng cao; từng bước hình thành nền kinh tế tri thức dựa trên nguồn nhân lực có chất lượng; tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Vĩnh Long sẽ liên kết với Cần Thơ, phát triển thành vùng kinh tế động lực, trung tâm kinh tế, đào tạo, văn hóa và khoa học kỹ thuật của vùng ĐBSCL, góp phần cùng cả nước thực hiện thành công mục tiêu xây dựng nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.

Ông Nguyễn Văn Diệp cho biết, để đạt các mục tiêu trên, Vĩnh Long sẽ tập trung vào các nhóm giải pháp sau:

Thứ nhất, giải pháp huy động vốn đầu tư: nhu cầu vốn đầu tư của toàn tỉnh giai đoạn 2011 - 2020 khoảng 240.000 tỷ đồng, trong đó thời kỳ 2011 - 2015 khoảng 70.000 tỷ đồng; giai đoạn 2016 - 2020 là 170.000 tỷ đồng. Tỉnh cần chủ động xây dựng kế hoạch, phân kỳ đầu tư phù hợp để đảm bảo vốn cho các công trình, dự án trọng điểm của địa phương; đồng thời, cần có các giải pháp cụ thể để huy động có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển.

Thứ hai, giải pháp về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực: theo hướng cơ bản đáp ứng tốt nhu cầu về lao động trong các ngành, nghề; kết hợp hài hòa giữa đào tạo với giải quyết việc làm cho người lao động; có chính sách thu hút chuyên gia, lao động có trình độ cao.

Coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch và sử dụng cán bộ. Thực hiện xã hội hóa công tác giáo dục, đào tạo; khuyến khích các hoạt động xã hội về khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập; có khả năng hội nhập quốc tế.

Thứ ba, giải pháp về khoa học và công nghệ: đẩy mạnh phong trào phát huy sáng kiến, sáng chế cải tiến kỹ thuật trong sản xuất, kinh doanh; thực hiện đúng quy định quyền sở hữu công nghiệp; khuyến khích các DN dành vốn cho nghiên cứu đổi mới công nghệ, cải tiến kỹ thuật nâng cao năng suất lao động. Đổi mới cơ chế, chính sách đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng người lao động và có kế hoạch trẻ hóa đội ngũ cán bộ làm công tác khoa học - công nghệ...

Thứ tư, giải pháp về chính sách đầu tư: xây dựng chương trình, dự án kêu gọi đầu tư, thu hút đầu tư của người Vĩnh Long ở nước ngoài về quê hương. Tăng cường công tác xúc tiến đầu tư để thu hút các nguồn vốn ODA; tạo môi trường đầu tư hấp dẫn nguồn vốn FDI bằng các cơ chế miễn giảm thuế, giảm giá thuê đất...

Thứ năm, đẩy mạnh hợp tác và phát triển thị trường: tăng cường liên kết với các tỉnh, thành phố trong vùng ĐBSCL, nhằm khai thác tốt tiềm năng, lợi thế từng địa phương.

Theo Hưng Phú

Báo đầu tư

cucpth