TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Sự suy giảm dòng vốn nước ngoài và phản ứng chính sách

30-04-2009 - 10:00 AM | Kinh tế vĩ mô - Đầu tư

Sự suy giảm dòng vốn nước ngoài và phản ứng chính sách

Năm 2008 đánh dấu sự tháo lui của dòng vốn FDI vào các nền kinh tế mới nổi. Trong năm 2009, xu thế này vẫn tiếp diễn và được dự báo sẽ còn trở nên nghiêm trọng hơn .

Nếu như vào tháng 9/2008, Viện Tài chính quốc tế (IIF) còn dự báo rằng, dòng vốn chảy vào các thị trường mới nổi trong năm 2009 là 562 tỷ USD thì sau đó 4 tháng, IIF một mặt điều chỉnh giảm lượng vốn tư nhân thực chảy vào các thị trường mới nổi trong năm 2008 từ 619 tỷ USD xuống còn 466 tỷ USD, mặt khác dự báo rằng, trong năm 2009, dòng vốn tư nhân vào các thị trường mới nổi sẽ chưa tới 165 tỷ USD - tức chỉ bằng 1/3 so với năm 2008 và 1/5 với năm 2007 (xem Hình 1).

Nếu dự báo này của IIF chính xác thì lượng vốn giảm sẽ chiếm tới 6% GDP của các nền kinh tế mới nổi - cao hơn rất nhiều so với mức giảm 3,5% trong khủng hoảng tài chính châu Á cuối những năm 1990 và 1,5% trong khủng hoảng nợ của châu Mỹ La-tinh.

Những con số này phản ánh tình trạng cạn kiệt tín dụng cả bên trong (do lợi nhuận doanh nghiệp giảm) lẫn bên ngoài (do vốn khan hiếm và chi phí vốn cao hơn) và tâm lý sợ rủi ro của các nhà đầu tư - hai hệ quả trực tiếp của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay. Rõ ràng là tình trạng suy giảm nghiêm trọng của nhu cầu thị trường có thể làm nhụt chí ngay cả những nhà đầu tư dũng cảm nhất.

Triển vọng của dòng vốn đầu tư gián tiếp vào các nền kinh tế mới nổi thậm chí còn ảm đạm hơn. Sau khi các nền kinh tế mới nổi thu hút được lượng vốn đầu tư gián tiếp kỷ lục (40,8 tỷ USD) trong năm 2007 thì ngay trong năm 2008, lượng vốn gián tiếp chạy khỏi các nền kinh tế này lên tới 41,2 tỷ USD, bằng một nửa tổng lượng vốn gián tiếp đổ vào các thị trường mới nổi từ năm 2003.

Dòng vốn nước ngoài vào Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế chung của thế giới. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, cho đến hết quý I/2009, Việt Nam đã thu hút được 2,2 tỷ vốn đăng ký FDI, giảm 70% so với cùng kỳ năm trước. Ngay cả khi tính thêm 3,8 tỷ USD vốn đăng ký bổ sung của các dự án hiện có thì tổng vốn FDI cũng chỉ đạt 6 tỷ USD, giảm 40% so với cùng kỳ năm 2008.

Về vốn đầu tư gián tiếp, sau làn sóng đầu tư ồ ạt (khoảng 9 tỷ USD) năm 2007, hoạt động đầu tư gián tiếp của các nhà đầu tư nước ngoài ở Việt Nam trở nên cầm chừng, và trên thực tế vốn đầu tư gián tiếp đã và đang tiếp tục được rút ra khỏi nền kinh tế Việt Nam.

Sự suy giảm dòng vốn đầu tư nước ngoài có những hệ lụy quan trọng đối với nền kinh tế của Việt Nam. Trong một thời gian dài, Việt Nam đã theo đuổi mô hình tăng trưởng dựa vào đầu tư, trong đó FDI chiếm gần 20% tổng đầu tư toàn xã hội. Không những thế, khu vực FDI cũng đóng góp khoảng 20% cho GDP, 40% kim ngạch xuất khẩu (chưa kể dầu thô) và 3,5% lao động trực tiếp cho nền kinh tế Việt Nam.

Đồng thời, nguồn vốn FDI cũng góp phần quan trọng trong việc cải thiện cán cân thanh toán vốn bị xói mòn do nhập siêu cao gây ra. Với những thực tế này, Việt Nam là một nước có mức độ phụ thuộc vào FDI cao nhất trong khu vực. Vì vậy, sự suy giảm về FDI chắc chắn sẽ tác động hết sức tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng GDP, xuất khẩu và việc làm của nước ta.

Trong bối cảnh dòng vốn FDI suy giảm mạnh và khó có thể phục hồi thậm chí trong trung hạn thì một ưu tiên hàng đầu về chính sách là phải nỗ lực khắc phục các rào cản đối với việc giải ngân cho các dự án FDI hiện tại. Thủ tục hành chính và giải phóng mặt bằng luôn luôn là một rào cản rất lớn đối với việc triển khai các dự án FDI.

Một số nhà đầu tư cao ốc văn phòng cho biết, cùng một dự án như nhau, nếu ở Trung Quốc hay Thái Lan chỉ cần 1-2 năm để hoàn tất dự án thì ở Việt Nam thường phải tốn gấp đôi thời gian này vì thủ tục hành chính phiền hà và vô số phức tạp nảy sinh trong việc giải phóng mặt bằng.

Theo kinh nghiệm của các nước khác, thay vì để nhà đầu tư tự đứng ra đền bù, giải tỏa mặt bằng thì nhà nước (mà cụ thể là chính quyền địa phương) cần thực hiện những hoạt động này, sau đó mới tiến hành đấu thầu hay đấu giá một cách công khai và cạnh tranh.

Các doanh nghiệp FDI đã và đang kêu ca rất nhiều về thực trạng thiếu lao động, đặc biệt là lao động quản lý và có kỹ năng, nhưng cho đến nay vấn đề này vẫn chưa được khắc phục.

Nếu như Việt Nam muốn thu hút FDI vào những ngành công nghệ cao, có khả năng tạo giá trị gia tăng lớn thì không được phép lặp lại tình huống của Intel khi công ty này chỉ tuyển được 40 nhân viên từ 2.000 cử nhân của 5 trường đại học kỹ thuật lớn nhất Việt Nam.

Đáng tiếc là trong gói kích cầu thứ hai của Chính phủ, giáo dục và đào tạo lại không phải là một lĩnh vực được hỗ trợ lãi suất trung hạn 4%.

Cơ sở hạ tầng yếu kém và quá tải cũng là một yếu tố làm nản lòng các nhà đầu tư. Tình trạng mất điện đột ngột không được báo trước, nhiều tuyến giao thông huyết mạch thường xuyên tắc nghẽn, hàng hóa bị ách tắc ở cảng... là những điều đã được phản ảnh đi phản ảnh lại nhiều lần nhưng vẫn không hề được cải thiện.

Thêm vào đó, với giá nhiên liệu biến động khó lường, có thể nhiều nhà đầu tư sẽ phải định vị lại địa điểm đầu tư lại gần những thị trường tiêu thụ chính để giảm chi phí vận chuyển, và khi ấy Việt Nam có thể không tận dụng được một số lợi thế sẵn có của mình.

Tăng cường chất lượng cơ sở hạ tầng để giảm chi phí cho doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp FDI nói riêng là yêu cầu cấp bách không chỉ để thu hút thêm dự án FDI mới mà còn để giữ chân những dự án hiện hữu.

Mối liên kết lỏng lẻo giữa khu vực FDI và khu vực kinh tế nội địa cũng là một điểm yếu của nền kinh tế Việt Nam. Bằng chứng rõ ràng là công nghệ phụ trợ của chúng ra rất yếu, và trong nhiều lĩnh vực, để có thể xuất khẩu được thì cần phải nhập khẩu tới 70-80% nguyên vật liệu từ nước ngoài.

Điều này một mặt hạn chế tác dụng lan tỏa tích cực của FDI đối với các doanh nghiệp trong nước, mặt khác tăng chi phí kinh doanh của các doanh nghiệp FDI.

Lượng vốn FDI là một chỉ tiêu quan trọng, nhưng hiệu quả của FDI mới thực sự là yếu tố quan trọng hàng đầu. Dòng vốn FDI đổ vào càng nhiều thì chúng ta lại càng phải biết chọn lọc sao cho dòng vốn này đóng góp một cách hiệu quả nhất vào sự phát triển của đất nước.

Nhà nước cần khuyến khích và tạo điều kiện cho những dự án FDI tạo ra sức lan tỏa mạnh mẽ về công nghệ, quản trị, và kỹ năng; đồng thời cần hết sức thận trọng trước những dự án chỉ nhằm mục đích khai thác tài nguyên thiên nhiên (vốn hữu hạn và ngày càng khan hiếm) và dứt khoát ngăn chặn những dự án tổn hại đến môi trường vì cái giá phải trả của các thế hệ tương lai có thể lớn hơn nhiều lần một vài mối lợi trước mắt.

Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô hiện nay, nên khuyến khích những dự án có khả năng tạo ra nguồn ngoại tệ để giúp cân bằng cán cân thanh toán, đồng thời cũng cần ngăn chặn những dự án mang tính đầu cơ để giảm thiểu những rủi ro tiềm tàng.

Trong phúc có họa. Thời kỳ FDI sôi động vừa qua đã làm cả nền kinh tế phấn khích với những thành tích thu hút FDI ngoạn mục mà quên mất những nhược điểm nghiêm trọng có tính cơ cấu của việc thu hút FDI ở Việt Nam.

Cụ thể là bên cạnh việc quá phụ thuộc vào FDI như đã phân tích ở trên thì cũng cần phải thấy là "thành tích" thu hút FDI hơn 60 tỷ USD trong năm 2008 chủ yếu là do chúng ta quá hào hứng với những siêu dự án liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến việc khai thác tài nguyên thiên nhiên (bao gồm đất đai, bờ biển, dầu khí) mà lãng quên những dự án sản xuất hay dịch vụ như ngân hàng, công nghiệp nhẹ, nông-lâm-ngư nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng.

Không những thế, sự phấn khích này cũng làm chúng ta trở nên quá dễ dãi với những đánh giá môi trường, không chú trọng đúng mức tới việc cải thiện cơ sở hạ tầng, chất lượng giáo dục và dạy nghề, thủ tục hành chính liên quan đến FDI...

Nếu như trong phúc có họa thì trong họa cũng có phúc. Thời kỳ FDI trầm lắng hơn như hiện nay cũng là lúc các nhà hoạch định chính sách FDI có điều kiện ngồi lại một cách điềm tĩnh để đánh giá một cách cẩn thận những gì mình đã làm được và những gì cần tiếp tục hoàn thiện để có thể cải thiện môi trường kinh doanh và trên cơ sở đó duy trì và thu hút các dự án FDI một cách bền vững và hiệu quả nhất.

Trên phương diện này, nghiên cứu mới đây của KPMG - một công ty tư vấn hàng đầu thế giới - về các yếu tố quan trọng nhất trong việc chọn địa điểm đầu tư trong thời kỳ khủng hoảng sẽ là một nguồn tham khảo hữu ích (xem hình 2).

Theo Vũ Thành Tự Anh
Báo Đầu tư

thanhtu

CÙNG CHUYÊN MỤC
XEM