TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Tái cơ cấu trong khủng hoảng

Tái cơ cấu trong khủng hoảng
rong suy thoái kinh tế, ngành chăn nuôi cũng cần cơ cấu lại hoạt động để gia tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm.

Nhiều nhà phân tích cho rằng đây là thời điểm tốt để Việt Nam tái cơ cấu nền kinh tế.

Suy thoái kinh tế toàn cầu tác động tiêu cực đến nước ta, nhưng nó cũng giúp chúng ta nhìn rõ hơn về mình về những khiếm khuyết trong cơ cấu kinh tế đang cản trở nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững.

Vì thế, nhiều nhà phân tích cho rằng đây là thời điểm tốt để Việt Nam tái cơ cấu nền kinh tế.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang phối hợp cùng các bộ, ngành xây dựng đề án “Tái cấu trúc nền kinh tế trong điều kiện kinh tế thế giới suy giảm” để trình Chính phủ trong thời gian tới. Dưới đây xin nêu một số nội dung có tính cơ cấu mà chúng ta cần làm để chuẩn bị cho thời kỳ hậu suy thoái và phục hồi.

Mô hình phát triển

Một là, mô hình phát triển của nước ta trong nhiều năm qua là mô hình hướng ngoại, dựa nhiều vào xuất khẩu (khoảng 70% GDP) và thu hút đầu tư nước ngoài (vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm 16% tổng vốn đầu tư toàn xã hội của những năm 2000-2005, và lên trên 20% trong mấy năm gần đây. Nếu tính cả đầu tư gián tiếp thì tỷ lệ này lên đến 30%).

Mô hình này có thể phù hợp trong điều kiện bình thường nhưng lại khiến nền kinh tế dễ bị tổn thương khi kinh tế thế giới khủng hoảng. Theo đó, kinh tế trong nước chỉ vượt cạn khi kinh tế thế giới phục hồi.

Do đó, trong thời gian tới mô hình phát triển cần được điều chỉnh theo hướng, phát huy tối đa nội lực, đồng thời sử dụng có hiệu quả ngoại lực, tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế, của doanh nghiệp và sản phẩm sản xuất tại Việt Nam.

Khẩn trương xây dựng chính sách phát huy nội lực, hỗ trợ cho sản xuất nhắm vào thị trường nội địa và xa hơn là nâng cao sức mua của người dân trong nước. Việc trợ cấp cho một số lĩnh vực, nhất là nông nghiệp trong khuôn khổ WTO vẫn có cơ hội giúp ta ổn định và nâng cao thu nhập cho nông dân, đồng thời góp phần tăng cầu nội địa.

Nhằm giảm thiểu tác động lâu dài của những vụ kiện chống bán phá giá, chúng ta phải đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại sang nhiều thị trường xuất khẩu khác nhau, đa dạng hóa mặt hàng, chuyển sang phân khúc thị trường có mức giá bán trung bình.

Tích cực vận động các thành viên WTO sớm công nhận quy chế thị trường và không áp dụng điều khoản trong Nghị định thư gia nhập WTO về kinh tế thị trường. Với tư cách là thành viên WTO, chúng ta sử dụng quyền khởi kiện các doanh nghiệp nước ngoài bán phá giá, đồng thời, yêu cầu xem xét lại và sửa đổi các điều khoản liên quan đến kinh tế phi thị trường trong Hiệp định chống bán phá giá của WTO.

Huy động nhiều hơn nguồn lực trong nước cho đầu tư phát triển. Sớm thực hiện hình thức hợp tác công tư (PPP), linh hoạt hóa các quan hệ đầu tư, thương mại giữa các doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp chế xuất và doanh nghiệp trong khu phi thuế quan thuộc khu kinh tế.

Các doanh nghiệp trong nước cần chủ động hợp tác chặt chẽ hơn nữa với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong việc đầu tư sản xuất và cung cấp bán thành phẩm, linh kiện, phụ tùng cho họ, vừa giảm bớt phụ thuộc vào nước ngoài vừa làm cho công nghiệp phụ trợ trong nước mạnh lên.

Cần chuyển hướng đầu tư nước ngoài đang tập trung vào các dự án bất động sản quy mô lớn sang đầu tư vào những dự án thu hút nhiều lao động, giáo dục, giao thông sẽ có lợi hơn cho tăng trưởng kinh tế trong trung hạn và dài hạn.

Hai là, mô hình phát triển đã qua dựa chủ yếu vào tăng đầu tư (chiếm tới 60% tổng mức tăng trưởng), còn lại là tăng lao động và tăng năng suất xã hội, mỗi loại khoảng 20%, trong khi ở các nước trong khu vực tăng năng suất lao động chiếm tới 40%. Mô hình phát triển trong những năm tới cần đặt trọng tâm vào tăng lao động và tăng năng suất hơn là tăng đầu tư vì mức tăng đầu tư đã tới hạn, khoảng 40% GDP, khó tăng cao hơn.

Muốn tăng được việc làm, Chính phủ phải cân nhắc kỹ việc lựa chọn các dự án “thâm dụng vốn” và “thâm dụng lao động”, và trong điều kiện mang lại lợi ích kinh tế - xã hội tương đương nhau thì ưu tiên dự án “thâm dụng lao động”. Có những hỗ trợ cần thiết cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh cá thể, nhất là mặt bằng sản xuất, vốn và thị trường vì đây là khu vực thu hút nhiều lao động nhất. Không thể tăng được năng suất lao động nếu không có đầu tư khoa học, công nghệ và đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Cơ cấu lại một số lĩnh vực

Với những lĩnh vực như sản xuất bông, mía đường dù có các giải pháp tốt cả về tổ chức sản xuất lẫn kỹ thuật vẫn khó cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu thì nên thu hẹp sản xuất hoặc chuyển sang sản xuất các sản phẩm khác có sức cạnh tranh và có thị trường.

Những sản phẩm nông nghiệp như rau quả, chăn nuôi do tập quán sản xuất nhỏ lẻ, phân tán nên không tạo ra được sản phẩm đồng đều, không đủ số lượng cho sản xuất công nghiệp thì nên đẩy nhanh việc thực hiện trên diện rộng chính sách dồn điền, đổi thửa ở những nơi có điều kiện được nông dân ủng hộ.

Đối với các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trong các lĩnh vực sản xuất ô tô, thép, giấy, dược phẩm phải có chính sách về tổ chức, xây dựng vùng nguyên liệu, đổi mới công nghệ và đa dạng hóa sản phẩm, đẩy mạnh công tác quản lý chất lượng sản phẩm và nâng cao trình độ hiểu biết về thị trường và pháp luật quốc tế. Mạnh dạn chuyển một số doanh nghiệp nội địa sản xuất ô tô sang chế tạo phụ tùng trong nước.

Về quan hệ giữa nhà nước và thị trường

Trong khủng hoảng kinh tế, các quốc gia có xu hướng tăng vai trò của nhà nước. Các nhà lãnh đạo các quốc gia cũng nhìn nhận sự cần thiết về sự giám sát và can thiệp của nhà nước vào khu vực tài chính, tiền tệ nhiều hơn là khu vực kinh tế thực.

Vấn đề đặt ra không chỉ là định vị đúng vai trò của nhà nước trong điều tiết kinh tế mà còn làm thế nào để can thiệp vào thị trường một cách hiệu quả, phù hợp với năng lực quản lý nhà nước, trước hết là việc điều tiết lực lượng kinh tế của mình là các doanh nghiệp nhà nước. Có thể nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước, trước hết là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước lớn với hai giải pháp lớn có tính cơ cấu.

Thứ nhất, đặt doanh nghiệp nhà nước vào môi trường cạnh tranh, buộc họ phải cạnh tranh. Việc kiểm soát giá độc quyền của những doanh nghiệp nhà nước lớn cần được giải quyết theo hướng tách riêng khỏi các tập đoàn, tổng công ty kinh doanh những lĩnh vực mang tính độc quyền tự nhiên (như mạng truyền tải điện, mạng viễn thông...) và áp dụng cơ chế quản lý thích hợp, bảo đảm sự bình đẳng đối với các doanh nghiệp khai thác, sử dụng mạng đó để cung cấp dịch vụ cho người tiêu dùng.

Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Việc cải tổ cơ cấu doanh nghiệp nhà nước chưa đạt yêu cầu do tốc độ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đang chậm lại. Nếu như năm 2005 có 724 doanh nghiệp được cổ phần hóa thì đến năm 2006 còn 640 và năm 2007 giảm xuống còn 50 doanh nghiệp và năm 2008 chỉ có 73 doanh nghiệp, bằng 28% kế hoạch đề ra.

Tuy đến nay, số lượng doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hóa đã tới 70% nhưng số vốn nhà nước tại các doanh nghiệp mới chỉ đạt khoảng 20% tổng vốn nhà nước có tại doanh nghiệp nhà nước, nên về cơ bản doanh nghiệp nhà nước ít được thay đổi về chất.

Theo Anh Thư
TBKTSG

khanhhoa