TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Tăng trưởng và chống lạm phát: Cân đối ra sao?

Tăng trưởng và chống lạm phát: Cân đối ra sao?

Tại thời điểm này, muốn chống lạm phát thì chúng ta phải quay trở về cái công cụ là phải nâng cao đuợc hiệu quả sử dụng đồng vốn.

Kinh tế Việt Nam đang đi giữa con đường với một bên là lạm phát và một bên là tăng trưởng. Nếu chúng ta chệch sang một bên thì có thể bị lạm phát và chệch sang một bên thì không bảo đảm tăng trưởng.

Làm thế nào để cân đối được bài toán tăng trưởng và lạm phát? Bee phối hợp với FBNC đã có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung, Phó Viện trưởng Viện quản lí kinh tế Trung ương về vấn đề này.

Từ đầu năm 2010 đến nay, chúng ta đã nói rất nhiều về công cuộc chống lạm phát và nguy cơ lạm phát. Chúng ta cũng nói rất nhiều về tốc độ tăng trưởng. Nhưng phải chăng chúng ta có một khoảng cách hẹp để lựa chọn giữa chống lạm phát và bảo đảm tăng trưởng, thưa ông?

Thực ra, đề tài chống lạm phát và bảo đảm tăng trưởng hợp lí đã được tranh luận trong nhiều năm gần đây. Tuy nhiên, mục tiêu chống lạm phát và bảo đảm tăng trưởng trong dài hạn có thể đi với nhau, song hành với nhau. Nhưng tại thời điểm hiện nay có thể hai mục tiêu xung đột lẫn nhau.

Hình dung chúng ta đi trên một con đường, nếu chúng ta chệch sang một bên thì có thể bị lạm phát và chệch sang một bên thì không bảo đảm tăng trưởng. Thế con đường đó nó hẹp hay rộng, thưa ông?

Theo tôi, nếu ta bàn đến hẹp hay rộng thì có lẽ ta phải bàn đến cách thức tăng trưởng của chúng ta hiện nay. Cách thức tăng trưởng cho đến nay của chúng ta là chúng ta nói thiên về chiều rộng, dựa vào vốn đầu tư là chủ yếu. Sự đóng góp của năng suất lao động và năng suất tổng hợp đối với tăng trưởng là thấp.

Mà trong lúc đó, chúng ta đã huy động vốn đầu tư đến 42-43% GDP và hiệu quả đầu tư của chúng ta nhìn chung là thấp và có xu hướng là hiệu quả giảm dần. Chính vì vậy cho nên tốc độ tăng trưởng của chúng ta theo con đường này nó đã hẹp dần.

Và theo tôi, nếu như chúng ta tiếp tục đi theo con đường này thì đến một vài năm nữa, có thể đi đến một ngõ cụt. Chính vì vậy mà tại thời điểm hiện nay, chúng ta phải thay đổi cách thức tăng trưởng, kết hợp một cách hài hòa giữa tăng trưởng theo chiều rộng và tăng trưởng theo chiều sâu. Nghĩa là phải tăng được năng suất lao động và hiệu quả sử dụng đồng vốn, trước hết là vốn đầu tư Nhà nước.

Và chính lạm phát, bất ổn định kinh tế vĩ mô hiện nay của chúng ta, theo tôi, nó là nội sinh từ cách thức tăng trưởng này. Nếu như chúng ta không thay đổi cách thức tăng trưởng này thì cái bất ổn kinh tế vĩ mô luôn luôn thường trực. Và như vậy, lạm phát luôn luôn ở mức cao.

Chính vì vậy, theo tôi, tại thời điểm này, muốn chống lạm phát thì chúng ta phải quay trở về cái công cụ là phải nâng cao đuợc hiệu quả sử dụng đồng vốn.

Một số người thì vẫn lập luận là tất cả mọi khoản đầu tư của chúng ta đều để nâng cao hiệu quả của nền kinh tế. Thí dụ chúng ta xây thêm cầu, chúng ta xây thêm cảng, xây thêm đường, chúng ta có những khoản đầu tư lớn. Điều này về lâu dài cũng là để cải thiện hiệu quả của nền kinh tế?

Đầu tư để mà nâng cao chất lượng và phát triển cơ sở hạ tầng là một đầu tư cần thiết và để nâng cao hiệu quả nền kinh tế. Nhưng nếu đó là đầu tư đúng hướng, đầu tư vào giải quyết đúng những vấn đề tắc nghẽn của nền kinh tế.

Còn nếu chúng ta đầu tư dàn trải, ở đâu cũng cầu, ở đâu cũng cảng, ở đâu cũng sân bay, ở đâu cũng khu công nghiệp thì dẫn tới cái việc là hiệu quả của đồng vốn sẽ giảm xuống và đồng thời, lại không giải quyết được những điểm tắc nghẽn về cơ cấu hạ tầng đối với nền kinh tế. Chính hiện nay chúng ta đang mắc vào cái điểm đấy.

Có những cảng xây dựng xong, có những cây cầu xây dựng xong, hàng năm vẫn không có người sử dụng. Nhưng chúng ta xây xong một cái cảng là chúng ta tăng được GDP. Nhưng nếu nói về khối doanh nghiệp (DN), GDP tăng trưởng 5,8% hoặc 5,9% tác động thực sự gì đến họ?

Đây là điều mà chúng ta muốn nói. Tăng trưởng đó là tăng trưởng kém chất lượng, tăng trưởng không bền vững. Mà tăng trưởng không bền vững thì như tôi nói lúc đầu, đến một mức là đường hẹp dần, đến một lúc nào đó đi vào ngõ cụt.

Còn tăng trưởng theo chiều rộng như ta vừa rồi nói thì thực ra các doanh nghiệp người ta cũng đánh giá được. Đó là nếu như cứ đầu tư như vậy và đặc biệt là đầu tư Nhà nước mở rộng như thế thì khu vực DN Nhà nước được hưởng lợi nhiều hơn.

Còn nếu không giải quyết được những điểm ách tắc của nền kinh tế, nhất là ách tắc trong cơ sở hạ tầng, vận chuyển hàng hóa, những điểm kết nối hàng hóa của nước ta với thị trường bên ngoài thì rõ ràng những cái như vậy nó ảnh hưởng không những đến nền kinh tế nói chung mà khu vực kinh tế tư nhân của chúng ta chịu ảnh hưởng, chịu thiệt thòi nhiều hơn.

Vâng, ông có nói là con đường chúng ta đi một bên là dễ bị rơi vào lạm phát và một bên dễ bị đi vào giảm tăng trưởng, và con đường đó đang hẹp dần. Kinh nghiệm của các nước xung quanh chúng ta, các nước láng giềng hay các nước có trình độ tương đương, họ đã xử lí con đường đó như thế nào?

Chúng ta cũng bàn nhiều và chúng ta cũng đã nhìn đến kinh nghiệm các nước trong thập kỉ 90 của thế kỉ trước. Và nó dẫn tới cuộc khủng hoảng của năm 1997 là những điều mà chúng ta gặp phải hiện nay thì các nước họ cũng đã gặp phải. Họ cũng đã phải xử lí những việc như chúng ta.

Và tôi cho rằng, sau khủng hoảng như thế, họ tái cơ cấu lại nền kinh tế và nhấn mạnh đến cái hiệu quả và cái năng suất chất lượng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Theo tôi, tại thời điểm hiện nay của chúng ta thì chúng ta phải thay đổi càng sớm càng hay cái việc chuyển từ thiên về tăng trưởng theo chiều rộng, đến chuyển sang nhấn mạnh hơn tăng trưởng theo chiều sâu. Và phải đặc biệt lưu ý đến việc nâng cao được hiệu quả đầu tư Nhà nước nói chung và đầu tư của các DN Nhà nước nói riêng.

Chúng ta nói là cơ cấu lại nền kinh tế, tăng cường khả năng cạnh tranh của DN và tăng cường hiệu quả của đầu tư công. Cụ thể ở trong Viện Quản lí kinh tế Trung ương, các ông đã đề đạt ra những biện pháp cụ thể nào từ những khâu như vậy?

Tại thời điểm hiện nay, chúng tôi nghĩ rằng là phải cắt giảm bội chi ngân sách.

Cắt giảm bội chi ngân sách bằng cách là tăng thu hay giảm chi, thưa ông?

Bằng cách giảm chi, giảm đầu tư Nhà nước. Cơ cấu lại, rà soát lại các dự án đầu tư, tập trung vốn vào những dự án đầu tư tập trung vào cơ sở hạ tầng, giải quyết các vấn đề tắc nghẽn của nền kinh tế.

Đầu tư như vậy, theo tôi, sẽ phát huy ngay hiệu quả là góp phần vào nâng cao hiệu quả đầu tư Nhà nước nói riêng và đầu tư của nền kinh tế nói chung. Ở điểm này, theo tôi cắt giảm đầu tư ngân sách, nâng cao hiệu quả đầu tư công là một mũi tên bắn trúng được rất nhiều đích. Đó là nâng cao hiệu quả của nền kinh tế, đồng thời bắn ra một tín hiệu rằng đây đang là một cách thức thay đổi, thay đổi cách thức tăng trưởng, nhấn mạnh hơn đến nâng cao hiệu quả tăng trưởng theo chiều sâu.

Và như vậy, nó giảm áp lực đối với lạm phát. Đồng thời, ở chỗ này, tăng dư lượng cho chính sách tiền tệ. Anh có thể nới lỏng chính sách tiền tệ để mở hơn và tăng thêm vốn cho khu vực kinh tế tư nhân. Và như vậy, vừa đảm bảo được tăng trưởng lại vừa giảm được áp lực lạm phát.

Thời gian vừa rồi, dư luận cũng nói rất nhiều về chính sách tiền tệ. Thí dụ như cung tiền, lãi suất, tỉ giá… Và thị trường thì cứ hướng vào đó, coi đó là những thủ phạm gây ra lạm phát. Quan điểm của Viện QLKT TW thế nào?

Quan điểm của cá nhân tôi thì cho rằng, như trên tôi đã trình bày, cái bất ổn của nền kinh tế vĩ mô hiện nay của chúng ta nói chung và lạm phát nói riêng, nó là nội sinh từ cách thức tăng trưởng của chúng ta: thiên về chiều rộng, đầu tư nhiều mà hiệu quả thì không cao, tiến tới thì lạm phát.

Do chúng ta theo đuổi mục tiêu tăng trưởng như vậy, cho nên để đạt được điều đó thì chúng ta phải huy động vốn nhiều. Huy động vốn nhiều thì có qua cả ngân sách, qua cả tiền tệ, tức là chính sách tiền tệ phải mở rộng, chính sách tài khóa cũng tương tự như thế.

Đồng thời với đó, kết hợp lại thì quản lí đầu tư của ta, đặc biệt là quản lí đầu tư Nhà nước nó không được tốt, cho nên nó kém hiệu quả. Nguyên nhân ở đây nó có nhiều thứ, không phải chỉ có chính sách tiền tệ, mà theo tôi, nguyên nhân cốt lõi là cái hiệu quả đầu tư kém.

Cho nên, việc xử lí chỉ thông qua chính sách tiền tệ như hiện nay, theo tôi, nếu có tác dụng thì cũng rất ngắn hạn, không giải quyết được vấn đề cốt lõi phát sinh ra thực trạng hiện nay.

Như vậy thì vấn đề cốt lõi là chính sách tài khóa chứ không phải chính sách tiền tệ. Nhưng như chúng ta vẫn nói là khi chúng ta đầu tư để tăng trưởng và đầu tư không được hiệu quả cao thì chúng ta muốn có tăng trưởng nhanh, chúng ta phải đầu tư nhiều. Và đầu tư nhiều thì chúng ta lại tiếp tục hoặc là phải vay nợ, hoặc là phải thâm hụt. Nhưng hiện nay, những hướng giải quyết trước mắt (tại vì chúng ta đang nói câu chuyện dài hạn hay ngắn hạn), ở ngắn hạn thì ông có đề ra một giải pháp nào cho ngắn hạn?

Theo tôi hiện nay thì không nên chạy theo các giải pháp ngắn hạn mà là giải pháp căn bản. Giải pháp căn bản có thể có cả tác động ngắn hạn hay đồng thời với nó phát huy được cả tác động trung và dài hạn tích cực.

Nếu giải pháp nào ngắn hạn mà có thể xử lí được vấn đề một vài ba tháng, sau đó thì lạm phát, bất ổn lại quay trở lại, theo tôi là không nên dùng. Chúng ta nên dùng những giải pháp tác động ngắn hạn và dài hạn cùng chiều nhau, tác động tích cực đến việc nâng cao hiệu quả đầu tư, đảm bảo tăng trưởng ổn định kinh tế vĩ mô.

Năm 2008, chúng ta đưa ra chính sách, rất nhiều những dự án phải cắt giảm đầu tư nhưng dường như chưa kịp thực hiện, thì sang năm 2009, chúng ta lại phải tiếp tục giải ngân cho những dự án đó. Thậm chí, chúng ta tiếp tục phải tìm những dự án có thể giải ngân để có thể ứng vốn của năm sau cho dự án đó. Như vậy, chúng ta đã siết lại, sau đó chúng ta lại nới ra. Còn xu hướng hiện tại của chúng ta là gì, thưa ông?

Đúng là điều đáng tiếc! Vào tháng 4/2008, chính phủ vào thời điểm đấy, tôi cảm nhận một quyết tâm cắt giảm đầu tư công hết sức mạnh mẽ. Và tại thời điểm đó, chúng tôi cũng kì vọng rằng những giải pháp như thế nó sẽ là bước đột phá để cơ cấu lại, bố trí lại, sắp xếp lại đầu tư Nhà nước và nâng cao hiệu quả của đầu tư Nhà nước.

Đáng tiếc rằng là sau đó thì khủng hoảng và buộc chúng ta phải thực hiện những chính sách như trên vừa mới mô tả, và dẫn đến những tác dụng, những tác động, những tính hữu ích mà tại thời điểm tháng 4/2008 mà chúng ta thực hiện nó không còn nữa.

Vào thời điểm hiện nay, theo tôi, vấn đề đó vẫn là vấn đề thời sự và việc giảm thâm hụt ngân sách Nhà nước, thu hẹp lại đầu tư công, bố trí lại, sắp xếp lại đầu tư và nâng cao hiệu quả của nó có lẽ vẫn là một trong những giải pháp căn bản, vừa tác động trực tiếp trước mắt, vừa tác động về lâu dài là tích cực.

Theo Bee.net.vn

thanhhuong