TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Thế giới biết đến Việt Nam bằng những thành tựu kinh tế mới

07-11-2009 - 09:01 AM | Kinh tế vĩ mô - Đầu tư

Thế giới biết đến Việt Nam bằng những thành tựu kinh tế mới

Việt Nam phải nâng cao năng lực cạnh tranh ở 3 cấp: Nhà nước, doanh nghiệp và sản phẩm.

Sau 3 năm gia nhập WTO, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế về mọi mặt, đặc biệt là kinh tế được nâng cao. Việt Nam được đánh giá như là một đối tác quan trọng và giàu tiềm năng của khu vực Ðông - Nam Á.

Trao đổi với chúng tôi về những thành tựu, hạn chế sau 3 năm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), nguyên Thứ trưởng Bộ Thương mại Lương Văn Tự - Trưởng đoàn đàm phán gia nhập WTO của Chính phủ, hiện là cố vấn cao cấp về WTO của Chính phủ, đã khẳng định như vậy.

Sau 3 năm gia nhập WTO, theo ông Việt Nam đã đạt được những thành quả kinh tế nào đáng khích lệ?

Trước hết, có thể thấy vai trò về kinh tế của Việt Nam trên trường quốc tế được thể hiện rõ hơn. Nhiều nước và tổ chức trên thế giới đều đánh giá Việt Nam là nền kinh tế mới, năng động và phát triển nhanh.

Năm 2008 là năm kỷ lục thu hút FDI của Việt Nam (đạt trên 60 tỷ USD). Năm 2009, dù kinh tế thế giới đang suy thoái và khủng hoảng tài chính nhưng đến nay cam kết đầu tư nước ngoài đã đạt 18 tỷ USD, dự kiến có thể đạt 20 tỷ USD. Mặc dù kinh tế thế giới suy thoái nhưng Việt Nam vẫn là một trong những nước đạt tăng trưởng dương (khoảng 5,2% năm 2009). Kết quả này cũng nhờ vào chính sách mở cửa, thu hút đầu tư, tăng trưởng xuất khẩu. Năm 2009, chúng ta không bị rơi vào tình trạng suy thoái kinh tế nặng nề như một số nước.

Thực hiện các cam kết trong WTO gắn liền với việc thay đổi khuôn khổ pháp lý, nhưng dường như chúng ta tiến hành chậm và trở thành rào cản với doanh nghiệp, thưa ông?

Khi gia nhập WTO, chúng ta đã sửa đổi các văn bản pháp luật, từ đó tạo môi trường thông thoáng, minh bạch, ổn định hơn. Chính điều đó đã thu hút các nhà đầu tư trong khu vực, thế giới.

Trong cam kết gia nhập WTO, chúng ta đã sửa được 30 Luật. Tất cả những Luật, Pháp lệnh cam kết sửa thì chúng ta đã sửa xong. Cái vướng của chúng ta là chưa làm hết được những văn bản dưới Luật, đặc biệt là các nghị định. Đề án 30 của Chính phủ về đẩy mạnh cải cách hành chính là một khâu đột phá.

Giai đoạn đầu, chúng ta đã liệt kê được trên 5.700 các loại giấy tờ, thủ tục hành chính từ trung ương đến địa phương; giai đoạn 2 đang đối chiếu lại xem cái nào trùng lặp, thừa, văn bản nào không đúng qui định của Luật thì sẽ bãi bỏ; cái nào thiếu thì chúng ta sẽ bổ sung để hoàn chỉnh. Thủ tướng đã quyết định chúng ta phải giảm 30% tổng số các văn bản đó. Nếu chúng ta thực hiện được tốt điều này thì mỗi năm, theo các chuyên gia kinh tế, sẽ tiết kiệm được trên 10.000 tỷ đồng cho ngân sách. Sau giai đoạn thống nhất thủ tục, giấy tờ chúng ta phải nhanh chóng phát triển thương mại điện tử, chính phủ điện tử để kết nối giữa các cơ quan chính quyền, doanh nghiệp, người dân.

Nhiều người kỳ vọng khi vào WTO sẽ đem lại những bước đột phá lớn, nhưng thực tế lại chưa có những được đột phá như kỳ vọng. Là người đã bỏ ra hàng chục năm để đàm phán gia nhập WTO, suy nghĩ, tâm trạng của ông lúc này như thế nào?

Gia nhập WTO là tạo môi trường để các nền kinh tế phát triển, còn bản thân việc gia nhập không làm cho người ta giàu lên hay nghèo đi. Điều quan trọng là chúng ta phải thay đổi các chính sách trong nước. Thực ra, chúng ta không gặp may lắm. Việt Nam vào WTO được 1 năm thì kinh tế thế giới đi vào chu kỳ khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế. Đây là cuộc khủng hoảng lớn nhất trong vòng 60 năm qua. Khác với Trung Quốc, gia nhập năm 2001, họ được hưởng trọn vẹn một thời kỳ phồn thịnh của kinh tế thế giới nên tranh thủ được rất nhiều cơ hội. Chúng ta cũng tranh thủ được nhiều cơ hội nhưng do khủng hoảng kinh tế nên hạn chế kết quả việc gia nhập WTO.

Theo tôi, việc gia nhập WTO là để thay đổi lâu dài cho nền kinh tế chứ không phải là những gì có được sau 1-2 năm. Nếu chúng ta không có sự đầu tư, hỗ trợ vốn ODA và những nguồn vốn từ bên ngoài thì chắc chắn trong những năm vừa qua kinh tế Việt Nam không có sự tăng trưởng như vậy. Chúng ta đang chuẩn bị những bước để sau này phát triển nhanh hơn, bền vững hơn. Nếu sang năm 2010 chúng ta tăng trưởng đạt 6,5% thì những năm sau chúng ta có thể trở lại mức tăng GDP 7-8%/năm.

Thực tế, giá trị gia tăng của ngành công nghiệp còn thấp, điều này chứng tỏ chúng ta chưa đầu tư cho việc thay thế hàng nhập khẩu. Điều này có đe doạ nhiều đến cán cân thương mại của Việt Nam không thưa ông?

Khi bắt đầu mở cửa, hầu như các nước đều gặp thực tế này, đều có giai đoạn nhập siêu máy móc, thiết bị để tăng đầu tư. Bởi lẽ, nhiều người nghĩ rằng, trước đây phải nhập khẩu qua nhiều trung gian, bây giờ tự làm thì càng có điều kiện hơn.

Khi khủng hoảng tài chính thì nhiều nước phá giá đồng tiền, tạo cơ hội cho hàng hoá của mình thâm nhập nơi khác để cân bằng cán cân thương mại. Trong khi đó, công nghiệp của chúng ta tăng trưởng chậm, đồng Việt Nam lại tương đối mạnh so với giá trị thực, điều đó cũng đẩy nhập siêu lên. Chúng ta cũng phải nghiên cứu vấn đề này một cách toàn diện. Nếu để tỷ giá mạnh như hiện nay không có lợi cho xuất khẩu nhưng lại có lợi cho nhập khẩu.

Nhiều người lo ngại, việc mở cửa, hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới sẽ khiến các doanh nghiệp nước ngoài ào vào, trong khi các doanh nghiệp trong nước lại đang phải lo chống chọi với khủng hoảng thì sẽ không toàn tâm vào cạnh tranh, quan điểm của ông về vấn đề này?

Doanh nghiệp lo là đúng nhưng điều quan trọng là phải nhìn xem họ có làm gì hay không. Nếu doanh nghiệp không hành động mà chỉ ngồi lo thì không biết bao giờ mới hết lo. Tôi ví dụ, khi chúng ta chuẩn bị mở AFTA với các nước ASEAN thì nhiều người lo lắng hàng hoá của họ sẽ tràn vào Việt Nam. Nhưng cuối cùng hàng hoá của họ có tràn vào mấy đâu.

Chúng ta lo chuyện phân phối, nhưng cách đây 7-8 năm chúng tôi đã khuyên các doanh nghiệp nên mở rộng hệ thống bán lẻ, bán buôn chiếm lĩnh thị trường trong nước. Đây là thị trường “tiền tươi, thóc thật”, phí quảng cáo, vận tải thấp. Nhưng tại sao lại không phát triển được, vì doanh nghiệp ít quan tâm đến nó, hàng tốt thì đem đi xuất khẩu, trong nước thì cho “thượng đế” dùng hàng kém chất lượng. Cho nên, chính chúng ta tự làm mất thị trường của ta.

Để tác động của WTO đến nền kinh tế tích cực và hiệu quả hơn, thời gian tới chúng ta cần tập trung vào những vấn đề gì, thưa ông?

Điều quan trọng là chúng ta phải ổn định kinh tế vĩ mô. Việt Nam cần tránh lặp lại tình trạng cuối 2007 đầu 2008, kinh tế thế giới ổn định nhưng vĩ mô lại bị mở rộng tín dụng quá mức (54%) rồi sau đó siết lại quá chặt khiến cho nền kinh tế phát triển không bình thường.

Theo tôi, đây là thời kỳ thuận lợi để chúng ta cơ cấu lại nền kinh tế để tập trung vào những giá trị gia tăng hàng hoá, đẩy mạnh công nghiệp công nghệ cao.

Thứ hai là tập trung đào tạo nguồn lực. Hiện nay, chúng ta đang rất thiếu nguồn lực (quản trị doanh nghiệp và công nhân lành nghề).

Thứ ba, chúng ta phải nhanh chóng đầu tư vào hạ tầng cơ sở và có những đầu tư dứt điểm, như hiện nay là chúng ta đang rải “mành mành”, đầu tư sau vài năm mà không có công trình nào đưa vào sử dụng được, gây lãng phí.

Thứ tư, chúng ta phải nâng cao năng lực cạnh tranh ở 3 cấp: Nhà nước, doanh nghiệp và sản phẩm.

Theo Vũ Hạnh

VOV

thanhhuong

CÙNG CHUYÊN MỤC
XEM