TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Vì sao 70% người Việt Nam ưa thích hàng ngoại

11-08-2008 - 08:39 AM | Kinh tế vĩ mô - Đầu tư

Vì sao 70% người Việt Nam ưa thích hàng ngoại

Tập đoàn truyền thông hàng đầu thế giới Grey Group mới đây đã công bố kết quả điều tra cho thấy người Việt “sính ngoại nhất châu Á”.

Hai tin nóng đến với người tiêu dùng Việt Nam tuần qua gần như đồng thời: tập đoàn truyền thông hàng đầu thế giới Grey Group vừa công bố kết quả điều tra cho thấy người Việt mình “sính ngoại nhất châu Á” (so với 16 nước châu Á), và đế chế cà phê Starbucks (Mỹ) vừa bị thua cuộc tại thị trường Australia sau 8 năm chiến đấu và phải rút lui khỏi thị trường này

Vì sao 70% người Việt Nam ưa thích hàng ngoại hơn thì chúng ta chắc ai cũng hiểu được. Còn vì sao Starbucks chạy dài? Điều lý thú là chính thế mạnh của họ khi mở rộng đế chế ra toàn cầu là thương hiệu và mạng phân phối lại cũng là vấn nạn cho họ tại Australia.

Quá tin vào sức mạnh mở hàng loạt điểm phân phối với cùng khuôn mẫu của mình, quá chú trọng tính toàn cầu, sức mạnh thương hiệu quốc tế của họ, Starbucks không đáp ứng được tính độc đáo với khẩu vị riêng khác biệt trong cạnh tranh với những đối thủ tí hon là của những quán cà phê nhỏ ở khắp các địa phương ở đất nước có tới 235 sắc dân.

Thế là sau tám năm bươn chải, họ đành rút lui. Tháng 6.2006, Wal-Mart cũng rút khỏi Hàn Quốc sau tám năm kinh doanh ở đây. Tám năm, Wal-Mart chỉ chiếm được 4% thị phần, xếp sau hệ thống siêu thị Shinsegae (đã mua lại 16 cửa hàng của Wal-Mart với giá 882 triệu USD) chiếm 30% thị phần.

Vì sao ông lớn Wal-Mart thảm bại ở Hàn Quốc? Nhiều nghiên cứu cho thấy điều quan trọng nhất là Wal-Mart không hiểu tập quán, sở thích của người tiêu dùng Hàn Quốc. Những dãy hàng ngồn ngộn, giá rẻ hấp dẫn của Wal-Mart thực ra lại rất xa cách với người tiêu dùng Hàn Quốc vốn có thói quen tiêu dùng riêng: họ muốn trực tiếp tiếp xúc với sản phẩm (đã bị đóng gói niêm phong rất chặt ở Wal-Mart) và hơn nữa là được nhân viên bán hàng hướng dẫn, tư vấn khi chọn mua hàng.

Qua báo chí, các siêu thị Hàn Quốc, đối thủ cạnh tranh của Wal-Mart còn quảng bá đậm việc họ chăm lo tốt cho nhân viên để nhân viên phục vụ tận tuỵ nhất cho người tiêu dùng (đó chính là gót chân Achille của Wal-Mart vốn nổi tiếng với hàng loạt vụ kiện bóc lột nhân viên); và chính những người bán hàng thân thiện, chuyên nghiệp này đã đáp ứng yêu cầu mà Wal-Mart không thoả được. Quan trọng hơn nữa là sự kết nối chặt chẽ giữa nhà sản xuất và nhà phân phối của Hàn Quốc, hợp tác với trách nhiệm cao trong cạnh tranh, chia sẻ chuỗi giá trị để hàng hoá đến tay người tiêu dùng tốt nhất.

Ở cả hai ví dụ nhãn tiền này, yếu tố quyết định vẫn là sự lựa chọn của người tiêu dùng. Thế mạnh về tài chính, thương hiệu, mạng phân phối toàn cầu, tính chuyên nghiệp vẫn là những hòn đá tảng trong cạnh tranh; nhưng không phải những đối thủ nhỏ hơn, yếu hơn ở từng nước – đặc biệt là các nước châu Á – không thể tìm ra gót chân Achille của những anh khổng lồ này.

Với những nhà sản xuất kinh doanh Việt Nam, kết quả nghiên cứu của Grey Group chắc chắn làm cho họ nghĩ sâu thêm về những khó khăn chồng chất trước mặt.
 
Lạm phát trên 20%, vay vốn ngân hàng khó chưa từng thấy, nguyên liệu đầu vào tăng, phí vận chuyển và mọi khoản phí khác tăng, lương công nhân tăng mà sức mua giảm và dãy hàng được chọn mua trong lực lượng người tiêu dùng trung lưu bị thu hẹp đáng kể.
 
Mùa này là những tháng cuối cùng trước năm 2009 là năm mà các đại gia phân phối quốc tế có thể mở cửa hàng 100% vốn ở Việt Nam (họ sẽ ưu tiên phân phối hàng trong hệ thống hàng hoá toàn cầu của họ).
 
Hơn tháng qua, trung tâm Nghiên cứu kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp BSA và câu lạc bộ Hàng Việt Nam chất lượng cao đã tổ chức 12 cuộc họp giữa các doanh nghiệp để cùng chia sẻ các giải pháp sống chung với lạm phát.
 
Các doanh nghiệp đều đồng tình là giải pháp nào thì cũng phải bắt đầu từ sự liên kết hợp tác giữa các doanh nghiệp với nhau (doanh nghiệp từng ngành, từng địa phương, doanh nghiệp sản xuất với các nhà phân phối...) và giữa doanh nghiệp với các nhà truyền thông.
 
Việc kêu gọi “người Việt Nam dùng hàng Việt Nam” chung chung chắc chắn khó có thể thuyết phục.
 
Tại các cuộc thảo luận, doanh nghiệp thấy, chính các nhà kinh doanh, nhà sản xuất phải cam kết và minh bạch với người tiêu dùng về những nỗ lực của mình: giữ vững chất lượng hàng hoá, tăng thêm dịch vụ, ưu đãi, tiện ích cho người tiêu dùng và hợp tác với nhau đưa ra nhiều sáng kiến, nhiều hình thức kinh doanh phục vụ tốt nhất người tiêu dùng.
 
Báo chí cần giới thiệu những kinh nghiệm liên kết thành công giữa các doanh nghiệp và đối với người tiêu dùng, kinh nghiệm chọn lựa hàng hoá và dịch vụ như thế nào là khôn ngoan, vừa có ích cho mình, gia đình mình, góp phần bảo vệ việc làm cho người lao động, bảo vệ thương hiệu hàng hoá Việt Nam trong cạnh tranh.

Chính sự chọn lựa có đòi hỏi nghiêm khắc (có tin cậy thì có sự chăm sóc và đòi hỏi) của người tiêu dùng về nhiều mặt sẽ là động lực và áp lực cho doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh.

Lạm phát, rõ ràng đang là một môi trường thử thách bản lĩnh của chúng ta trong việc xây dựng và duy trì “quyền lực mềm” từ các thương hiệu hàng hoá được tin cậy, từ những giá trị văn hoá mạnh mẽ của Việt Nam, cả từ các sức mạnh khác như ẩm thực Việt Nam...
 
Sự ủng hộ của người tiêu dùng, như một thái độ tập thể có cân nhắc, xem xét, suy tính chính là quyền lực mềm của Việt Nam, và trong thực tế mặc nhiên hình thành một hàng rào vững chắc, một hàng rào vô hình bằng thép bảo vệ hàng Việt Nam mà ngay cả quy định của WTO cũng không thể hạn chế được.

Theo Vũ Khánh
SGTT

thanhtu

CÙNG CHUYÊN MỤC
XEM