TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Việt Nam cần bắt kịp tốc độ cải cách bên ngoài

Việt Nam cần bắt kịp tốc độ cải cách bên ngoài
Ông Justin Yap

"Việt Nam đang đối mặt với nhiều thủ tục hành chính đã lỗi thời, tệ quan liêu giấy tờ, tiêu cực... Việt Nam cần phải làm như thế nào để bắt kịp với tốc độ cải cách của các nước trong khu vực, chứ không chỉ so với mình trong quá khứ".

Ông Justin Yap, chuyên gia nghiên cứu về khu vực tư nhân của Ngân hàng Thế giới trao đổi với VTC News nhân dịp đến Hà Nội gần đây để công bố báo cáo Doing Business 2007 củaNgân hàng Thế giớivà Tập đoàn Tài chính Quốc tế.

Theo báo cáo này,Việt Nam đã được tăng 3 bậc trong bảng xếp hạng về môi trường kinh doanh, từ vị trí 94 năm ngoáilên vị trí 91 năm nay trong tổng số 178 nền kinh tế được xếp hạng.

Việt Nam cần cạnh tranh trên bình diện quốc tế...

- Nhìn vào các kết quả xếp hạng của Việt Nam trong năm 2007 và 2002, khi mới được đưa vào bản đánh giá của World Bank, ông có thể nhận xét gì về những cải thiện của Việt Nam?

- Việt Nam đã có những tiến bộ tuyệt vời trong những năm qua. Nếu xét trên bình diện của tất cả các nước đang phát triển, thì Việt Nam là một ví dụ điển hình về tiến bộ. Tôi có thể kể ra những tiến bộ mà Việt Nam đã đạt được, như ra đời của Luật Doanh nghiệp mới, Luật Chứng khoán, ... đây là cơ sở pháp lý để Việt Nam phát triển khu vực kinh tế tư nhân trong thời gian tới.

Trong vòng 5 năm qua, Việt Nam đã có 413 cải cách, trong đó có 200 cải cách được thực hiện chỉ riêng trong năm ngoái. Điều đó chứng tỏ các cải cách tiến hành nhanh và dày hơn.

Tuy nhiên, Việt Nam đang đối mặt với nhiều thủ tục hành chính đã lỗi thời,tệ quan liêu giấy tờ, tiêu cực... Việt Nam cần phải làm như thế nào để bắt kịp với tốc độ cải cách của các nước trong khu vực, chứ không chỉ so với mình trong quá khứ.

- Thế ông đánh giá như thế nào về tốc độ cải cách của Việt Nam so với các nước khác?

- Việt Nam là một trong các quốc gia đang tiến hành cải cách, và khu vực Tây Á là khu vực cải cách nhanh và nhanh hơn nhiều khu vực khác như Tây Âu, Đông Âu.

Ở Khu vực Châu Á Thái Bình Dương thì Trung Quốc là nước đứng đầu về cải cách, đặc biệt trên 3 lĩnh vực, trong đó có đóng cửa doanh nghiệp, là lĩnh vực khó. Malaysia có cải cách mạnh trong 3 lĩnh vực.

Trong khi đó Việt Nam cải cách trong 2 lĩnh vực là bảo vệ các nhà đầu tư và tiếp cận tín dụng. Tôi nghĩ là Việt Nam có triển vọng tiến nhanh hơn nữa.

- Việt Nam đang tiến hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tiêu chí này có được xem xét trong bản xếp hạng của World Bank nay không, và nó có ảnh hưởng đến tâm lý của các nhà đầu tư hay không?

- Một trong những lợi thế của báo cáo Doing Business là không xem xét một quốc gia trên cơ sở nền kinh tế thị trường hay không, mà chỉ đánh giá một cách khách quan về các chỉ số kinh doanh ở các nước khác nhau.

Trong 30 nước dẫn đầu về cải cách có một số nước ở khu vực Ban tích. Họ cũng từng là các nướcxã hội chủ nghĩa, nhưng họ đã tiến hành đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường khả năng cạnh tranh của môi trường kinh doanh. Và họ đã tăng hạng.Điều này không liên quan gì đến tên gọi của họ.

Tôi muốn nói cái tên xã hội chủ nghĩa hay nền kinh tế thị trường không ảnh hưởng lắm đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư. Khi họ cân nhắc đến đầu tư họ sẽ xem xét việc kinh doanh ở nước đó thuận lợi ở mức nào. Họ sẽ nhìn đâu là những rào cản để triển khai một doanh nghiệp. Điều này phù hợp hơn với góc độ của một nhà doanh nghiệp.

Một ví dụ điển hình là Trung Quốc. Trên thực tế thì các nhà đầu tư đang đầu tư mạnh vào Trung Quốc, và tôi thấy Việt Nam và Trung Quốc là 2 thị trường tiềm năng rất lớn. Điều này sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài.

Còn các nhà đầu tư trong nước cũng vậy mà thôi.

... Trên cơ sở những cải cách vi mô

- Ông nhận xét rằng nếu Việt Nam cải thiện tốt hơn nữa 3 chỉ số là khởi nghiệp, tiếp cận tín dụng và giấy phép (trong 10 chỉ số chung để tính điểm xếp hạng cho các nước) thì sẽ nâng hạng lên 30 bậc.

- Tôi không định nói là Việt Nam cần phải cải thiện chỉ 3 lĩnh vực này. Ý tôi là Việt Nam phải cải thiện về thủ tục hành chính nói chung. Ví dụ cụ thể là cải cách về thuế.

Tôi thấy rằng Việt Nam xếp hạng 128 về chỉ số này, đây là thứ hạng không tích cực. Lý do Việt Nam rơi vào thứ hạng thấp như vậy, là thời gian để các doanh nghiệp làm các thủ tục nộp thuế gánh nặng. Chúng tôi có nghiên cứu điển hình đưa ra là các doanh nghiệp cần 1050 giờ/năm để nộp thuế.

Trong cuộc làm việc với Tổng cục thuế, chúng tôi thấy có một số lĩnh vực mà Việt Nam có thể cải thiện được. Ví dụ, nếu VN tiến hành kê khai thuế điện tử, thì là cách rút ngắn thời gian, giảm gánh nặng cho doanh nghiệp. Ví dụ khác, mà VN có thể cải thiện, là giảm các form biểu mẫu thuế. Hiện nay doanh nghiệp đang phải áp dụng tới 61 biểu mẫu trong việc đóng thuế. Tôi nghĩ rằng nếu Việt Nam gộp các biểu mẫu này lại thành một, thì cũng là một cách giảm thiểu thời gian và đơn giản hóa thủ tục hành chính để nâng thứ hạng của Việt Nam lên.

- Nhưng có ý kiến cho rằng phần lớn doanh nghiệp Việt Nam là vừa và nhỏ, mới xuất hiện sau năm 2000, và vì vậy họ không sẵn sàng nộp thuế. Ông đánh giá như thế nào về nhận xét này?

- Vấn đề là Việt Nam cần giảm những gánh nặng thủ tục từ phía các bộ, ngành với doanh nghiệp.Doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa có đủ năng lực, họ không có nhiều trình độ để thực hiện những quy định phức tạp. Các chính phủ khác sẽ đưa ra những ưu đãi, ví dụ như đơn giản hóa các biểu mẫu thuế cho doanh nghiệp vừa và nhỏ. Như vậy, họ sẽ tham gia tốt hơn vào quá trình đóng thuế.

- Việt Nam có thể học hỏi được gì từ Thái Lan và Malaysia, những quốc gia láng giềng đã có những cải thiện tốt về môi trường đầu tư?

- Một thông điệp rất đơn giản thôi, là Việt Nam phải đơn giản hóa tất cả các quy trình thủ tục. Nếu mức độ kinh doanh càng dễ dàng bao nhiêu, thì Việt Nam càng dễ tăng hạng bấy nhiêu. Nếu chính phủ giảm được tệ quan liêu, hành chính giấy tờ thì Việt nam có thể thăng hạng. Đó là bài học rút ra từ 2 nước láng giềng.

Ví dụ xin giấy phép xây một nhà kho. Ở Việt Nam thời gian không tốn kém nhiều lắm, nhưng lại tốn kém về chi phí. Theo thông kê của nghiên cứu Doing business thì chi phí để xây nhà kho vào khoảng 375% so với thu nhập đầu người ở VN, con số này ở Thái Lan chỉ là 10% thôi. Đây là mức độ chênh lệch lớn.

Ví dụ về thuế. Ở Malaysia áp dụng khai thuế điện tử, và nhờ đó thời gian kê khai thuế của doanh nghiệp ở Malaysia chỉ mất 166 tiếng/năm so với 1050 tiếng/năm ở Việt Nam.

Ví dụ nữa là khắc dấu. Ở Việt Nam doanh nghiệp cần con dấu thì phải có thủ tục thông qua của các cơ quan chính phủ. Đây là quy trình lỗi thời rồi. Ở Malaysia người ta không còn áp dụng điều này nữa. Và Việt Nam nên học điều này từ ngay các quốc gia láng giềng.

Theo Tư Giang (thực hiện)
VTC.vn

thanhtu

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên