TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Xác lập lại vai trò kinh tế tư nhân

Xác lập lại vai trò kinh tế tư nhân

Trước tình trạng làm ăn kém hiệu quả của một số DNNN, vai trò của kinh tế tư nhân lại được nhắc đến với đề xuất: Cần phải ưu tiên hỗ trợ nhiều hơn, tương xứng với sự đóng góp của khu vực KT này.

Đóng góp nhiều, được ưu đãi ít

Khu vực kinh tế tư nhân sử dụng đồng vốn hiệu quả nhất, đóng góp nhiều nhất vào GDP và tạo ra việc làm nhiều nhất (xấp xỉ 50% GDP và gần 90% số lao động)

Đến nay, chưa có số liệu thống kê về hiệu quả đầu tư giai đoạn 2011-2015. Vì vậy, hiệu quả đầu tư của các khu vực kinh tế, theo nguyên tắc, phải dựa vào kết quả đánh giá của 2 giai đoạn gần nhất: 2000-2005, 2006-2010.

Trong giai đoạn từ 2000-2010, hiệu quả đầu tư từ tổng số tiền bỏ ra trong năm (hệ số ICOR) tại Việt Nam là 6,07 - nghĩa là để tăng 1 đồng GDP cần bỏ ra 6,07 đồng vốn. Hệ số này thuộc vào loại thấp nhất thế giới, chủ yếu là do đầu tư kém hiệu quả của khu vực Nhà nước (8,53) và khu vực đầu tư nước ngoài (9,65). Trong khi đó, khu vực kinh tế tư nhân tỏ ra rất hiệu quả khi bỏ ra 3,28 đồng vốn đã tạo ra 1 đồng giá trị tăng thêm.

Một điểm đáng ngạc nhiên là khi xét hệ số ICOR của từng khu vực kinh tế với 2 loại nguồn vốn (từ tổng nguồn tiền bỏ ra và từ lượng tiền đi vào quá trình sản xuất) thì ở khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, lượng tiền bỏ ra nhằm đầu tư cho sản xuất nhiều nhất với 1 đồng bỏ ra thì có gần 83% đi vào sản xuất (tuy nhiên, ở khu vực này, máy móc và các loại tài sản cố định dường như khấu hao hết). Tiếp đến là khu vực kinh tế tư nhân với 68% và khu vực kinh tế Nhà nước thấp nhất, chỉ 63% vốn bỏ ra đến được quá trình sản xuất.

Ở các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, lượng tiền đi vào sản xuất cao hơn các khu vực kinh tế khác, hệ số ICOR cũng cao hơn và không tạo ra nhiều thặng dư. Khảo sát cho thấy hầu như các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều không có lợi nhuận, một bộ phận không nhỏ trong khu vực này thực chất là phân xưởng của công ty mẹ ở một nước nào đó. Các công ty này thường xuyên báo lỗ, được khấu trừ thuế GTGT xuất khẩu… nên Nhà nước hầu như không thu được gì.

Như vậy, có thể thấy khu vực kinh tế tư nhân sử dụng đồng vốn hiệu quả nhất. Khu vực này cũng đóng góp nhiều nhất vào GDP và tạo ra việc làm nhiều nhất, xấp xỉ 50% GDP và gần 90% số lao động.

Thế nhưng, khu vực này hầu như không được hưởng ưu đãi nào, chưa kể những bất cập về chính sách, các cơ quan hành chính gây khó dễ, cơ chế xin - cho gây khó khăn không ít cho doanh nghiệp. Ví dụ, một doanh nghiệp ở Hải Phòng sản xuất phom giày, nguyên vật liệu chính là nhôm phế liệu thu mua trực tiếp từ các vựa đồng nát không có hóa đơn bán hàng nên doanh nghiệp không xuất trình được hóa đơn đầu ra, không được khấu trừ thuế GTGT.

Hệ số ICOR tính theo vốn
Số TT
Giai đoạn
2000-2010
2000-2005
2006-2010

Tổng số
6,07
4,89
7,45
1
Kinh tế Nhà nước
8,53
6,94
10,85
2
Kinh tế ngoài Nhà nước
3,28
2,93
3,55
3
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
9,65
5,20
15,26

(Tính toán từ nguồn số liệu của Tổng cục Thống kê)

Một vấn đề nữa cần đặt ra là phải chăng khu vực kinh tế tư nhân vốn không được nhiều ưu đãi đang cõng cả nền kinh tế trên lưng. Sự gia tăng sản lượng trong nền kinh tế là do sự gia tăng của các yếu tố đầu vào và sự gia tăng về năng suất bằng hệ số năng suất nhân tố tổng hợp (Total Factor Productivity - TFP).

Đóng góp về TFP vào tăng trưởng của Việt Nam đã thấp, những năm gần đây còn giảm mạnh (hiện còn dưới 10%). Riêng khu vực ngoài Nhà nước, do thiếu vốn để đầu tư thay đổi công nghiệp nên TFP của khu vực này đóng góp vào tăng trưởng đã thấp ngày càng thấp, còn dưới 5%.

Để khu vực kinh tế ngoài Nhà nước phát triển bền vững và có những đóng góp tích cực hơn nữa cho phát triển kinh tế, an sinh xã hội, cần có những chính sách thiết thực, kịp thời và công bằng hơn về thủ tục hành chính, về pháp lý và hỗ trợ về nguồn vốn cho khu vực này.

Theo Bùi Trinh
NLĐ

cucpth

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên