Dự kiến tăng thuế tài nguyên
Đa số các các loại khoáng sản kim loại dự kiến sẽ tăng mức thuế suất tăng từ 7% hiện đang áp dụng lên 10%, riêng vàng và đất hiếm dự kiếm mức thuế suất là 12%.
Theo thông tin từ Cổng TTĐT Chính Phủ, triển khai thực hiện Luật Thuế Tài nguyên vừa được Quốc hội khóa XII thông qua, Bộ Tài chính đã dự thảo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc ban hành Biểu thuế suất Thuế Tài nguyên và dự thảo Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2010.
Dự thảo Nghị quyết nêu rõ, mức thuế suất thuế tài nguyên được xác định theo nguyên tắc tài nguyên không có khả năng tái tạo thì thuế suất cao (khoáng sản kim loại và một số loại tài nguyên quý hiếm khác như kim cương, rubi, dầu thô, khí thiên nhiên, khí than...); tài nguyên có khả năng tái tạo thì thuế suất thấp (nước, hải sản tự nhiên...).
Danh mục nhóm, loại tài nguyên chịu thuế được phân thành 9 nhóm theo quy định của Luật Thuế Tài nguyên. Trong mỗi nhóm sẽ quy định các loại tài nguyên với mức thuế suất cụ thể.
Trước tiên, trong nhóm khoáng sản kim loại, đây là loại tài nguyên không tái tạo, có giá trị kinh tế lớn. Để góp phần khai thác, sử dụng tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả nên dự kiến mức thuế suất cao. Đa số các kim loại thuộc nhóm này dự kiến mức thuế suất tăng từ 7% hiện đang áp dụng lên 10% (sắt, mangan, titan, bạch kim, bạc, thiếc, chì, kẽm, nhôm...), riêng vàng và đất hiếm dự kiếm mức thuế suất là 12% (vàng hiện đang áp mức 9%, đất hiếm 12%).
Trong nhóm khoáng sản không kim loại, đối với một số loại tài nguyên quý hiếm, có giá trị kinh tế cao như kim cương, rubi, sapphire, ôpan quý... được đề nghị mức thuế suất cao (15% và 20%) để hạn chế khai thác. Một số loại tài nguyên có giá trị không lớn và là đầu vào của các ngành sản xuất như đất khai thác để san lấp, xây dựng công trình, đất làm gạch, apatit, sỏi... mức thuế suất sự kiến thấp, khoảng từ 3 - 5%.
Nhóm nước thiên nhiên về cơ bản vẫn giữ các mức thuế suất như hiện hành. Đối với nước khoáng thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên tinh lọc đóng chai, đóng hộp mang lại giá trị kinh tế cao có mức thuế suất cao là 8%. Đối với nước thiên nhiên dùng cho sản xuất thuỷ điện mức thuế suất là 2%.
Đối với dầu thô, khí thiên nhiên, khí than, thuế suất được xác định lũy tiến từng phần theo sản lượng dầu thô, khí thiên nhiên, khí than khai thác bình quân mỗi ngày và có phân biệt giữa "dự án khuyến khích đầu tư" và "dự án khác". Các mức thuế suất đều được giữ nguyên như hiện hành (từ 6 - 27% đối với dầu thô và 1 - 10% đối với khí thiên nhiên, khí than), riêng khí thiên nhiên, khí than có sản lượng khai thác đến 5 triệu m3/ngày hiện hành đang áp dụng mức thuế suất 0%, nay khung thuế suất mới là 1-30% nên phải tăng mức thuế suất lên 1% để đảm bảo phù hợp với khung thuế suất của Luật.