Logistics, vẫn câu chuyện tầm nhìn quy hoạch
Logistics (hậu cần)- dịch vụ đóng vai trò quan trọng đối với khâu sản xuất và kinh doanh, nhưng sự yếu kém về hạ tầng và quy hoạch đang cản trở sự phát triển của ngành này.
Vấn đề này đã được
các chuyên gia quốc tế và Việt Nam nhắc trong
hội thảo “Kết nối Việt Nam với châu Á” diễn ra tại TPHCM ngày 27-8 do Nhóm tư
vấn về chuỗi cung ứng Việt Nam (Vietnam Supply Chain Council) tổ chức.
Thị trường tiềm năng với những yếu kém cũ
Theo các chuyên
gia, tiềm năng phát triển hàng hóa của Việt Nam rất lớn, với tỷ lệ tăng trưởng
trung bình 20%/năm và có thể tăng lên 25%/năm trong thời gian ngắn (năm 2007,
lượng hàng qua cảng Việt Nam là 320,17 triệu tấn hàng hóa, tăng 18% so với năm
2006, theo công ty tư vấn Sprite).
Tuy nhiên, Việt
Ông Gopal R,
giám đốc Bộ phận Vận tải và hậu cần khu vực châu Á-Thái Bình Dương của tập đoàn
Frost & Sullivan, nói rằng ngành logistics tại Việt Nam vẫn đang trong giai
đoạn khởi đầu, các dịch vụ vận tải, kho bãi và phân phối không được thực hiện
với một phương thức thống nhất.
Chi phí
logistics tại Việt
Vị chuyên gia
này nêu dẫn chứng phần lớn cảng biển tại Việt Nam không được thiết kế cho việc
bốc dỡ hàng hóa hiện đại, cụ thể, nhiều cảng nằm ngoài TPHCM chỉ được thiết kế
cho hàng rời, không có trang thiết bị bốc dỡ container chuyên dụng.
Các cảng của Việt
Mặt khác, các
sân bay trong nước cũng thiếu các thiết bị phù hợp để bốc dỡ hàng hóa, thiếu sự
đầu tư các kho bãi mới trong khu vực gần các sân bay. Còn các kho bãi hiện tại
trên cả nước lại không phù hợp với hàng hóa bốc dỡ nhanh, trong đó có nhiều kho
bãi đã được khai thác hơn 30 năm qua và không đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc
tế. Chưa kể đến tình trạng thiếu điện và dịch vụ hỗ trợ giao tiếp thông tin
(viễn thông).
Chia sẻ quan
điểm trên, ông Barry Akbar, giám đốc điều hành APL Vietnam cho biết Việt Nam có
quá nhiều cảng nhỏ và hoạt động không hiệu quả, nên trên thực tế vẫn thiếu cảng
lớn có khả năng tiếp nhận tàu từ 30.000 tấn trở lên (tàu 30.000 DWT hoặc tàu
container loại 2.000 TEU trở lên).
Theo số liệu từ
Cục Hàng hải thì cả nước hiện có 114 cảng biển, nhưng chỉ có 14 cảng có quy mô
lớn. Từ việc các cảng thiếu trang thiết bị bốc dỡ hiện đại, năng suất thấp,
cộng thêm với hệ thống đường bộ kém phát triển sẽ kéo theo tình trạng quá tải
tại các cảng.
Một trong những
vấn đề được doanh nghiệp quan tâm trong thời gian qua là tình trạng ùn tắc hàng
hóa tại các cảng lớn tại TPHCM, và theo ông Akbar, vấn đề này có thể sẽ kéo dài
đến năm 2009.
Bài học về tầm nhìn quy hoạch
Trên thực tế có
rất ít dự án hạ tầng được đầu tư trực tiếp bằng nguồn vốn (cả vốn trong nước và
vốn nước ngoài) thành công. Khoảng cách lớn giữa các dự án hạ tầng được phê
duyệt và và dự án đã thực hiện càng làm tăng thêm thách thức cho ngành
logistics.
Ông Barry Akbar
thuộc APL Vietnam cũng cho rằng Việt
Vấn đề ùn tắc
hàng hóa tại cảng có thể giải quyết được sau năm 2009 (khi mà việc xây dựng các
cảng mới tại Bà Rịa-Vũng Tàu hoàn thành), nhưng các ngành chức năng cần quy
hoạch và hệ thống lại các vùng cảng biển một cách rõ ràng. Hiện tại, quy hoạch
cảng không thống nhất, tại một số địa phương quy hoạch không hợp lý và không
khoa học. Sự phát triển chồng chéo sẽ dẫn đến lãng phí tài nguyên, thiếu đồng
bộ, ông Akbar nói.
Bên cạnh đó,
chuyên gia này cũng e ngại việc dời cảng ở TPHCM chậm trễ so với kế hoạch có
thể dẫn đến những xáo trộn. Mặt khác, việc đưa các cảng mới vào khai thác cũng
có khả năng bị trì hoãn do thiếu cơ sở hạ tầng kết nối (đường bộ, sân bay,
đường sắt, kho bãi…) đến các cảng mới này. “Quy hoạch tổng thể phải đáp ứng yêu
cầu dài hạn, cụ thể, cảng và cơ sở hạ tầng phải được xây dựng nhằm phục vụ cho
nhu cầu trong 20 năm tới,” ông Akbar nói.
Ông Arjan
Dominicus, giám đốc hậu cần của Schenker Vietnam lại cho rằng mặc dù Việt Nam
có đội ngũ nhân lực tiềm năng cho ngành logistics, nhưng vẫn thiếu những chiến
lược về đào tạo và thiếu sự đầu tư cho trang thiết bị đạt tiêu chuẩn cao hơn.
Còn ông Jeffrey
Bahar đến từ công ty tư vấn Spire Research and Consulting lại đề cập đến vấn đề
chạy theo số lượng thay vì chất lượng. Ông dẫn ra số liệu khảo sát cho thấy
Việt
Nếu khuynh hướng
này tiếp tục, trong một vài năm tới, Việt Nam sẽ qua mặt Thái Lan về số lượng
các công ty logistics nội địa (1.100 công ty), vượt xa Singapore, Indonesia và
Phillipines. Thế nhưng, các công ty logistics Việt Nam mới chỉ đáp ứng được 25%
nhu cầu nội địa và mới chỉ tập trung vào một vài ngành dịch vụ trong chuỗi giá
trị dịch vụ có doanh số hàng tỉ đô la Mỹ này.
Theo số liệu
thống kê năm 2007, vận tải và logistics đóng góp vào GDP khoảng 4,4%. Tuy
nhiên, nhiều dự báo cho rằng đây sẽ trở thành ngành kinh tế quan trọng, có thể
đóng góp tới 15% GDP của cả nước trong tương lai không xa.
Nhiều chuyên gia
cũng cho rằng, với tầm quan trọng và nguồn lợi từ logistics, việc phát triển
cần một chiến lược dài hạn những cơ chế chính sách pháp lý phù hợp nhằm tạo
điều kiện và thu hút sự đầu tư phát triển cho ngành này tại Việt
Theo Yến Dung
TBKTSG