Tiến lên hay dậm chân tại chỗ?
Việt Nam đang ở ngưỡng cửa mang tính quyết định: hoặc trở thành một xã hội giàu có và phồn vinh; hoặc chỉ mãi dừng lại ở vị thế của một quốc gia đang phát triển.
Đây là nhận định của một số học giả quốc tế và trong nước tại hội thảo mang tên “Vượt qua bẫy thu nhập trung bình: cơ hội và thách thức đối với Việt Nam” do viện Nghiên cứu chính sách quốc gia Nhật Bản phối hợp với trường đại học Kinh tế quốc dân tổ chức hôm qua tại Hà Nội.
Theo giáo sư Nhật Kenichi Ohno, người có 16 năm nghiên cứu về Việt Nam,
nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng nhanh chóng với tốc độ bình quân 7,4% trong
giai đoạn 1991 – 2009.
Năm 1990, Việt Nam vẫn còn là một trong những quốc gia
nghèo nhất thế giới với GDP bình quân đầu người là 98 USD. Đến năm 2009, với
GDP đầu người là 1.109 USD, Việt Nam đã được xếp vào hàng các nước có thu nhập
trung bình thấp.
Để tổng kết quá trình này, ông nói: “Tăng trưởng có tác động
trên diện rộng và tác động tới đời sống hàng ngày của tất cả người dân, đồng thời
tạo ra những thay đổi sâu sắc trên toàn bộ lãnh thổ”. Kết quả tăng trưởng kinh
tế mà Việt Nam có được trong một thập kỷ rưỡi vừa qua, theo giáo sư Ohno, là do
tác động của tự do hoá đúng thời điểm cộng với sức mua từ các nước khác đối với
hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam.
Nhưng đây là thời điểm mà Việt Nam đạt đến mức phát triển mà tại đó, tăng trưởng hướng tới mức thu nhập cao hơn sẽ không thể được đảm bảo nếu như không đổi mới đáng kể quá trình hoạch định chính sách nhằm phát huy tiềm năng đầy đủ của đất nước.
Hoàn cảnh mới mà Việt Nam có được hiện nay, theo tiến sĩ Lê Quốc Hội của đại học Kinh tế quốc dân, lại đang tạo ra sức ì mới. Ông nói: “Trái với tinh thần khẩn trương và cấp thiết của những năm đầu đổi mới, Việt Nam hiện nay đang bao trùm một bầu không khí thoả mãn và lạc quan, được nuôi dưỡng bởi thành tích thu hút đầu tư nước ngoài và sự ca ngợi của cộng đồng quốc tế và các nhà tài trợ”.
Sự lạc quan này, theo ông, đã khoả lấp đi một số vấn đề nội tại trong xã
hội và nền kinh tế. Chẳng hạn tình trạng
nông dân mất đất ở nông thôn, sự thâu tóm đất đai ở đô thị của một số đại gia
có mối quan hệ gần gũi với giới quan chức. Bên cạnh đó, khu vực doanh nghiệp
nhà nước thâm dụng nhiều vốn, được bảo hộ cao mà vẫn kém hiệu quả cũng tiếp tục
làm méo mó nền kinh tế.
Tiến sĩ Hội nhận xét: “Sự xuất hiện của những nhóm đặc quyền được hưởng đặc lợi từ việc giữ nguyên trạng thái hiện tại làm cho quá trình hoạch định chính sách trở nên nặng nề và thiếu động cơ tiếp tục cải cách”.
Quá trình hoạch định chính sách, theo giáo sư Ohno, đang có “vấn đề lớn”
khi chỉ hầu như đóng kín trong các bộ và Chính phủ. Ông nói: “Tôi thu thập những
chính sách cụ thể của nhiều nước khu vực và so sánh với của Việt Nam, thì thấy
Việt Nam còn cả một chặng đường dài nữa mới đạt như các nước khác. Nhiều chính
sách của Việt Nam đưa ra đã lạc hậu so với tiến triển của thị trường, nhu cầu của
doanh nghiệp”.
Ông gợi ý rằng, quy trình ra chính sách cần cải tiến, huy động được chất xám và đóng góp của giới trí thức, vì nó ảnh hưởng toàn diện và lâu dài tới quá trình phát triển của Việt Nam hiện nay.
Dẫn chứng chương trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước đến năm
2020, giáo sư Ohno cho rằng nó thiếu những kế hoạch cụ thể để hoàn thành.
Ông nhận xét: “Tầm nhìn 2020 thì có rồi, là Việt Nam trở thành nước công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhưng tôi thú thật là không thể hiểu rõ mục tiêu hay nội hàm của nó là gì. Bởi vì bên cạnh chiến lược định hướng thì phải có chương trình hành động cụ thể, ai sẽ lo vốn, ai là người thực hiện, tiến độ như thế nào”.
Điều này rõ ràng đòi hỏi cải cách căn bản trong hệ thống công. Ông cho rằng,
các cơ quan nhà nước phải giải quyết được những vấn đề về thừa nhân sự, lương
thấp, công chức làm thêm ngoài, chủ nghĩa hình thức, tính cứng nhắc, hiện tượng
ô dù, tham nhũng, thăng tiến dựa trên quan hệ và lợi ích qua lại. Chế độ công
quyền ở Việt Nam đang tụt hậu rất xa so với những nền kinh tế thành công khác
trong khu vực như Singapore, Malaysia và Thái Lan.
Ông nói: “Tôi đã theo dõi Việt Nam trong 16 năm qua nhưng không thấy cải cách đáng kể nào trong chính sách. Đây là thời điểm rất quan trọng để làm việc đó”.
Theo Tư Giang
SGTT