Trong
một buổi nói chuyện với các nhà phân tích vào tháng 1, CEO Jamie Dimon của
JPMorgan Chase nói từ giữa đến cuối năm 2010, nhiều ngân hàng sẽ “thừa vốn”.
Ngân
hàng tăng lợi nhuận, bán cổ phiếu và tích trữ tiền mặt theo lệnh của các cơ
quan điều tiết nên tỷ lệ an toàn vốn đã
vượt xa mức tối thiểu theo quy định.
Giờ
họ đang phải đối mặt với sức ép từ nhiều
phía phải “tiêu bớt tiền” và cổ đông có nhiều khả năng sẽ chạm được vào số tiền
ấy.
“Thừa
vốn” nghe qua có vẻ tốt, nhất là khi chỉ mới khoảng một năm trước chính quyền
liên bang còn đang chạy đua để cứu hệ thống tài chính Mỹ khỏi sụp đổ. Tuy vậy, đáng
bất ngờ là có quá nhiều tiền cũng phiền phức y như chẳng có gì vậy.
Áp
lực lên ông Dimon và các CEO ngân hàng khác dâng cao từ nhiều hướng: cổ đông muốn tăng cổ tức; doanh nghiệp nhỏ nói
ngân hàng nên cho vay nhiều hơn để phục hồi kinh tế; và chính quyền thì muốn đánh
thuế các ngân hàng lớn để bù đắp cho khoản thua lỗ của chương trình cứu trợ dự
kiến lên tới 117 tỷ đôla.
Trong
số đó, đòi hỏi tăng cổ tức của cổ đông có nhiều khả năng thành công nhất.
JPMorgan Chase, vốn được coi là quản lý tốt nhất trong số các ngân hàng lớn, có
lẽ sẽ là ngân hàng đầu tiên tăng cổ tức.
Trong
buổi nói chuyện giải thích về khoản lợi nhuận 3,3 tỷ đôla của quý IV, JPMorgan
Chase nhắc lại kế hoạch tăng cổ tức thường
niên, từ mức 25 cent/cổ phiếu hiện nay lên 75 cent – 1 đôla/cổ phiếu trong nửa
cuối năm nay, khi cho rằng nền kinh tế sẽ tiếp tục phục hồi và thua lỗ tín dụng
như kỳ vọng.
Matthew
D. McCormick, nhà quản lý danh mục và phân tích ngân hàng tại Bahl & Gaynor
Investment Counsel nói: "Ngân hàng nào tăng cổ tức đầu tiên sẽ gây ấn tượng
với toàn bộ giới đầu tư."
Có
nhiều lý do để trả tiền cho cổ đông. Lợi
suất trung bình từ cổ tức các ngân hàng lớn, tức là cổ tức chia cho giá cổ phiếu, đang ở mức thấp nhất kể từ năm 1997.
Các
cơ quan điều tiết liên bang hiểu rằng ngân hàng muốn thưởng cho cổ đông để họ sẵn sàng mua số cổ phiếu phát hành
thêm trong tương lai qua đó củng cố cho số vốn của ngân hàng.
Các
định chế tài chính không định mang vốn đi
trả cổ tức. Ví dụ như ông Dimon quyết
tâm giữ cho JPMorgan Chase có đủ vốn.
Ông nói năm tới hệ số an toàn vốn tối
thiểu có thể sẽ tăng.
Tăng
cổ tức cũng có cái giá của nó. Đồng đôla nào
được đem ra để chi trả cổ tức sẽ
không thể dành cho các khoản cho vay mới hay bù đắp cho thua lỗ bất ngờ.
JPMorgan
Chase đi đầu sẽ tạo sức ép tăng cổ tức
lên các ngân hàng khác, dù tình hình tài chính của họ có không vững chắc bằng.
Dù
U.S. Bancorp và BB&T có thể cũng tăng cổ tức trong năm nay nhưng Citigroup
và Bank of America không thể làm vậy chí
ít đến năm 2011. (Người phát ngôn của Bank of America, Citigroup và Wells Fargo
từ chốt bình luận về kế hoạch của mình.)
Thừa
vốn chưa chắc đã là khỏe mạnh. Ví dụ như
vốn của Citi chiếm 11,7% tổng tài sản, cao hơn con số 11,1% của JPMorgan Chase
và vượt xa yêu cầu tối thiểu 6%.
Nhưng
không ai lại cho rằng Citi đang ở trong tình trạng tốt. Ngân hàng này thông báo
khoản lổ 7,6 tỷ đôla trong quý IV và tỷ lệ vỡ nợ trên danh mục cho vay tiếp tục
cao.
(Người
phát ngôn của Văn phòng kiểm soát tiền tệ nói các thanh tra viên của cơ quan này
không chỉ đánh giá sức khỏe của một ngân hàng dựa vào hệ số an toàn vốn của.)
Trước
khi JPMorgan hay bất kỳ ngân hàng nào tăng cổ tức cũng phải được sự thông qua của cơ quan giám sát. Bản
quy tắc của FED viết các cơ quan điều tiết phải cân nhắc đến “lợi nhuận hiện tại
và tương lai” khi thẩm tra yêu cầu này.
Một
số nhà kinh tế cho rằng kể cả các định
chế hùng mạnh nhất cũng nên giữ tiền mặt
vì khi giá tài sản giảm mạnh có thể khiến họ
mất thanh khoản và cần đến gói cứu trợ
từ người nộp thuế.
“Chúng
ta không muốn các ngân hàng lớn, dù cho có trách nhiệm hay không, đánh bạc với
tiền của người nộp thuế,” Laurence J. Kotlikoff, nhà kinh tế tại ĐH Boston nói.
Một
lý do để lo ngại là: Ngân hàng có thể vẫn kẹt trong thua lỗ vì danh mục cho vay
bất động sản khổng lồ, Giám đốc Công ty tư vấn tài chính Navigant Capital
Advisors, ông Edward Casas nói.
Một
dấu hiệu cho thấy các tập đoàn chưa hoàn toàn nhận ra thua lỗ của mình là họ vẫn miễn cưỡng bán tài sản với
cái giá hiện nay. Ông nói các giao dịch cỡ
nhỏ và vừa “về cơ bản bị đóng băng” vì ngân hàng giữ giá chào quá cao.
“Tấm
đệm” tiền mặt nêu bật một nghịch lý nữa: ngân hàng có nên tăng cường cho vay
hay kiểm soát chặt khoản vay hơn để hạn chế rủi ro vỡ nợ?
Giá
trị các khoản vay giảm từ 7,3 nghìn tỷ đôla
vào tháng 10/2008 xuống dưới 6,7 nghìn tỷ đôla vào đầu tháng 1/2010.
Giới
chính trị đòi các định chế phải tăng cường
cho vay để cải thiện kinh tế. Có lẽ ngân hàng sẽ tuân theo vì đó là cách họ kiếm
tiền. 1 nghìn tỷ đôla họ để tại FED chỉ cho lợi nhuận có 0,25%/năm.
Lý
do chính khiến tín dụng suy giảm là cuộc suy thoái đã biến những người đi vay tiềm
năng thành những địa chỉ quá rủi ro và dập
tắt nhu cầu tín dụng của số khác.
Liên
hiệp quốc gia các doanh nghiệp độc lập cho rằng tháng 12/2009 chỉ có 8% thành viên là doanh nghiệp nhỏ báo cáo
họ cần vốn nhưng không biết vay ở đâu so với khoảng 5% nói vậy khi tín dụng còn
dồi dào.
Số
khác cũng muốn chia phần từ tài sản ngân hàng lại là chính giới ngân hàng ưa lương
cao bổng hậu. Tại JPMorgan, lương trung bình tại khối ngân hàng đầu tư năm
ngoái tăng 37%. Nhưng lợi nhuận của ngành nhiều khả năng sẽ giảm trong năm
2010.
Trong
khi đó, tương lai của đạo thuế mới còn chưa chắc chắn. Nó có thể phải đối mặt với nhiều phản đối ở Quốc hội cũng như lời buộc tội thiếu
công bằng. Warren Buffet cũng chống lại sắc thuế mới.
“Nó
không có lợi với một môi trường kinh doanh thân thiện với nhà đầu tư,” Peter Sorrentino, người đang quản lý
13,8 tỷ đôla tại Huntington Asset
Advisors nói.
Một
quan chức cao cấp của chính quyền Obama nói Nhà Trắng hy vọng ngân hàng sẽ lấy
số tiền này từ quỹ lương thưởng, nhưng điều này không bắt buộc.
Nói
ngắn gọn là không ít người nhắm tới số
“vốn thừa” của ngân hàng. Nhưng cho tới nay, có vẻ như cổ đông sẽ là người nhanh tay nhất.
Theo Minh
Tuấn
Dân Trí/FT