MỚI NHẤT!

Đọc nhanh >>

Economist: Hãy sám hối vì những phút giây hoang phí (Phần 2)

| | Tài chính quốc tế

Sau vụ sụp đổ mới đây nhất, rõ ràng ranh giới giữa nợ công và nợ tư đã mờ đi. Nếu khu vực tư nhân thất bại, khu vực công sẽ buộc phải đứng ra nhận lấy nợ nần.

Đức hạnh hay không cũng phải tùy thời

Suốt 100 năm qua, cuộc chiến đạo đức đứng về phía con nợ. Phá sản không còn bị bêu xấu nữa mà đó đơn giản chỉ là không may. Khi người tiêu dùng vay mượn quá khả năng của mình, tội lỗi là ở quy trình cho vay lỏng lẻo thay vì người đi vay thiếu trách nhiệm. Chính phủ khuyến khích mọi người sở hữu nhà đất, do đó mà phải đi vay. Quịt nợ ai đó cũng không còn nặng nề như trước; trong cuộc khủng hoảng nhà đất hiện nay, nhiều chủ nhà Mỹ chỉ cần bỏ chìa khóa vào hòm thư của người đi vay rồi lững thững rời khỏi nhà.

Trong kinh doanh, thất bại là dấu hiệu của tinh thần doanh nhân thay vì bất tài. Quy trình phá sản theo chương 11 của Mỹ cho phép người quản lý công ty giữ nguyên vị trí của mình và doanh nghiệp được bảo vệ trước các chủ nợ. Nhiều công ty Mỹ với điểm tín dụng AAA sập tiệm vì họ hoạt động dựa vào lý thuyết rằng một bảng cân đối kế toán ngập trong nợ nần mới là hiệu quả (vì ở hầu hết các nước, lãi vay được khấu trừ khỏi thuế thu nhập).

Cuộc khủng hoảng gần đây cũng xua tan niềm tin vào sự đánh giá của thị trường tài chính. Vai trò của các ngân hàng trong đợt thắt chặt tín dụng và chi phí giải cứu khu vực tài chính làm xói mòn ý nghĩ thị trường định giá rủi ro một cách hợp lý và ngay thẳng. Thay vào đó, chi phí lãi vay cao được xem là tác hại của lũ đầu cơ vô liêm sỷ.

Vai trò của các hợp đồng hoán đổi rủi ro vỡ nợ quốc gia (CDS), một cách đặt cược vào khả năng một quốc gia không trả số tiền đã vay, đặc biệt gây tranh cãi. Các quốc gia Nam Âu vốn là tâm điểm trong những xáo động gần đây trên thị trường đã nhanh chóng buộc tội một âm mưu Anglo-Saxon nào đó do các quỹ đầu cơ, các tổ chức xếp hạng tín dụng và thậm chí là cả báo chí như chính tờ báo này (The Economist – ND) sắp xếp để đẩy chi phí lãi vay của họ lên cao một cách bất công. Chính phủ Đức tháng trước đã cấm bán khống trái phiếu chính phủ và một số giao dịch CDS. Theo lời mỉa mai của công ty môi giới chứng khoán Charles Stanley, các quốc gia EU đang nói rằng: “Xin hãy trả tiền cho lối sống của chúng tôi, nhưng đừng có bắt cam kết gì đấy.”


Rắc rối vì đâu

Chồng vay tiền vợ, cả nhà chẳng thiệt xu nào. Nói rộng ra, mọi khoản nợ là nghĩa vụ của người đi vay và nó cũng là tài sản của con nợ. Vì Trái Đất không vay tiền từ Sao Hỏa, nên liệu bùng nổ nợ nần có gây hại gì không, hay đó chỉ đơn thuần là câu chuyện của những con số?

Trong đợt bùng nổ tín dụng những năm 90 và 2000, quan điểm phổ biến cho rằng chẳng có vấn đề gì. Không chỉ vì giá tài sản tăng còn nhanh hơn nợ mà việc sử dụng các công cụ phái sinh để chia sẻ rủi ro ra toàn hệ thống và đặc biệt là đẩy rủi ro ra khỏi ngân hàng khiến hệ số an toàn vốn vượt xa mức yêu cầu.

Dù vậy, trả nợ là vấn đề của mọi khoản vay. Không phải tự nhiên mà chữ tín dụng (credit) lại bắt nguồn từ chữ Latin “credere” tức là tin tưởng. Nếu chủ nợ mất niềm tin vào người đi vay, họ sẽ yêu cầu trả số nợ hiện thời và từ chối cấp các khoản vay mới. Nếu nợ được bảo đảm bằng tài sản, người đi vay có thể buộc phải bán chúng đi. Bán nhiều sẽ khiến giá tài sản giảm và khiến chủ nợ càng không muốn cho vay thêm. Nếu giá tài sản giảm xuống dưới giá trị khoản vay thì cả chủ nợ và con nợ đều mất tiền.

Điều này đặc biệt rắc rối nếu nền kinh tế rơi vào giảm phát như đã diễn ra trên toàn thế giới trong thập kỷ 30 và ở Nhật Bản trong thập kỷ 90. Mức nợ cố định theo giá danh nghĩa trong khi giá tài sản có thể lên hay xuống. Vì thế giá giảm tạo ra vòng xoáy bán tài sản để thanh toán nợ, khiến giá lại càng giảm thêm và càng phải bán nhiều tài sản hơn. Nhà kinh tế Irving Fisher gọi đó là cái bẫy giảm phát nợ nần.

Một lý do nữa khiến nợ nần trở nên quan trọng là vai trò của ngân hàng trong nền kinh tế. Về bản chất, ngân hàng đi vay rồi cho vay lại. Việc kinh doanh là dựa trên niềm tin; không ngân hàng nào có thể tồn tại nếu người gửi tiền nào cũng muốn rút tiền về. Nếu ngân hàng phải vật lộn với khoản nợ của chính mình, họ sẽ không còn cách nào khác ngoài giảm số tiền cho vay. Nếu diễn ra trên diện rộng như hồi những năm 30, hiệu ứng lan tỏa đối với toàn nền kinh tế có thể rất khủng khiếp.

Cả hai tác động ấy có thể tìm thấy trong cuộc khủng hoảng nợ 2007-08. Giá bất động sản giảm gây ra các vụ phá sản và khủng hoảng thanh khoản trong hệ thống ngân hàng nghiêm trọng đến nỗi chính quyền lo ngại hệ thống tiền tệ sẽ ngừng hoạt động. Do đó mới có gói giải cứu ngân hàng hào phóng chưa từng có.

Nhà kinh tế Mỹ Hyman Minskyn cho rằng những cuộc khủng hoảng nợ này là điều cố hữu trong hệ thống tư bản chủ nghĩa và nó có tính chu kỳ. Giai đoạn thịnh vượng khuyến khích cá nhân và công ty chấp nhận thêm rủi ro, tức là vay nợ nhiều thêm. Ban đầu những hành vi đầu cơ như thế thành công và khuyến khích nhiều người khác làm theo; cuối cùng tín dụng được dành cho cả những người chỉ có thể thanh toán khoản nợ nếu giá tài sản còn tăng (một miêu tả ngắn gọn về cơn sốt cho vay dưới chuẩn). Cuối cùng kim tự tháp sụp đổ.

Sau vụ sụp đổ mới đây nhất, rõ ràng ranh giới giữa nợ công và nợ tư đã mờ đi. Nếu khu vực tư nhân thất bại, khu vực công sẽ buộc phải đứng ra nhận lấy nợ nần (hay bảo đảm) như những gì đã diễn ra năm 2008. Nếu không nền kinh tế có thể sẽ phải chịu một cuộc suy thoái sâu khiến doanh thu thuế chính phủ cần để trả nợ sụt giảm.

Nếu thế giới phương Tây đối mặt với một thời kỳ thắt lưng buộc bụng để trả nợ, điều đó sẽ ảnh hưởng thế nào tới cuộc sống hàng ngày? Rõ ràng một xã hội tiêu dùng sẽ phải chú ý nhiều hơn tới tiết kiệm. Suy nghĩ cho rằng dùng tiền đi vay để mua tài sản là con đường làm giàu nhanh chóng có thể không còn phổ biến. Điều này làm thay đổi thái độ của người sở hữu nhà cũng như nhiều bộ phận trong khu vực tài chính ví dụ như vốn cổ phần.

Báo cáo đặc biệt này cho rằng, với các nước phát triển, mô hình vay nợ đã đạt tới giới hạn của nó. Lựa chọn nào để giải quyết món nợ đang treo trước mặt cũng khó chấp nhận. Mỗi chính phủ lại phải tìm cách của riêng mình để giảm thiểu gánh nặng nợ nần. Cuộc chiến giữa người đi vay và chủ nợ có thể là cuộc đấu tranh chủ yếu của thế hệ kế tiếp.

Minh Tuấn
Theo Economist

ngocdiep

Trở lên trên