MỚI NHẤT!

Đọc nhanh >>

Vay USD bao nhiêu là đủ?

| | Tài chính - ngân hàng

Một lần nữa rủi ro khi doanh nghiệp vay USD quá nhiều lại được nhắc đến. Và rủi ro này không chỉ thuộc về doanh nghiệp.

Không chỉ khiến doanh nghiệp đi vay gặp rủi ro tỉ giá, việc đẩy mạnh cho vay bằng USD còn có thể đặt các ngân hàng trước rủi ro về cân đối nguồn vốn ngoại tệ. Vì thế, duy trì tỉ trọng vay và cho vay USD hợp lý là bài toán của cả doanh nghiệp lẫn ngân hàng. Ông Nguyễn Mạnh, Giám đốc Ban Vốn và Kinh doanh vốn, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, trao đổi về vấn đề này trên cương vị là chuyên gia tài chính độc lập.

Lãi suất huy động USD vẫn giữ ở mức tương đối cao, trên dưới 5%/năm. Huy động và dư nợ cho vay ngoại tệ của các ngân hàng đang có xu hướng tăng. Thực tế này nói lên điều gì?

Lãi suất chịu sự chi phối của thị trường. Từ khi Ngân hàng Nhà nước mở rộng đối tượng được vay bằng ngoại tệ theo Thông tư số 25/2009/TT-NHNN, tốc độ tăng trưởng tín dụng ngoại tệ tính đến hết tháng 6 ở mức tương đối cao, hơn 20% so với tháng 12.2009. Vì thế, nhiều ngân hàng đã tăng cường huy động USD để thu hút vốn. Đây là lý do khiến lãi suất USD trên thị trường không giảm mà tăng lên.

Các doanh nghiệp cũng tăng cường vay USD do tỉ giá VND/USD tương đối ổn định trong thời gian vừa qua. Chênh lệch lãi suất giữa VND và USD lại tương đối cao, từ 7-9 điểm phần trăm, đẩy cao nhu cầu vay USD. Cung USD có hạn, nhu cầu vay lại cao. Điều này cũng khiến mặt bằng lãi suất USD tăng lên.

Nên cân đối lãi suất VND và USD như thế nào để bình ổn thị trường ngoại tệ?

Một điều bất hợp lý hiện nay là nguồn vốn VND được huy động ở mức tương đối cao, trong khi cho vay VND lại tăng trưởng thấp. Điều này dẫn đến tình trạng dư thừa vốn bằng VND. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng tín dụng USD lại quá nhanh và các ngân hàng đã bắt đầu điều chỉnh tăng lãi suất huy động để thu hút USD.

Đối với doanh nghiệp, đồng tiền nào có chi phí rẻ thì họ vay. Vì thế, Ngân hàng Nhà nước cần xác định mức chênh lệch lãi suất và biên độ dao động tỉ giá phù hợp để bình ổn thị trường tiền tệ.

Cụ thể thì mức lãi suất nào là hợp lý để tránh tình trạng tập trung vay một loại tiền?

Chủ trương của Ngân hàng Nhà nước là giảm lãi suất cho vay VND xuống mức 10-12%. Đây là động thái đúng đắn. Thời gian vừa qua, lãi suất trái phiếu chính phủ đã giảm từ hơn 12% xuống mức 10%. Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất qua đêm đến kỳ hạn 2 tuần, 3 tuần chỉ quanh mức 7,5%, trong khi lãi suất huy động và cho vay VND vẫn ở mức cao.

Các ngân hàng thương mại đang lo ngại rằng, nếu giảm lãi suất huy động hay tăng lãi suất cho vay thì các doanh nghiệp sẽ chuyển sang ngân hàng khác. Vì vậy, cần có sự đồng thuận giữa các ngân hàng để dần dần điều chỉnh mặt bằng lãi suất huy động. Khi các ngân hàng giảm lãi suất huy động và cho vay xuống mức 10-12%, chênh lệch lãi suất giữa VND và USD sẽ thu hẹp lại.

Các ngân hàng thương mại gặp rủi ro gì khi tăng mạnh dư nợ cho vay ngoại tệ?

Đối với các ngân hàng, rủi ro chủ yếu là việc cân đối nguồn vốn ngoại tệ và cung ngoại tệ có đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn hay không, cả về quy mô lẫn kỳ hạn. Do Ngân hàng Nhà nước thực thi chính sách tiền tệ bằng VND là chủ yếu (dù USD chiếm một tỉ trọng không nhỏ trong tổng phương tiện thanh toán của nền kinh tế), nên chỉ có thể cung ứng thanh khoản bằng VND chứ không bằng USD được. Vì thế, các ngân hàng thương mại phải chủ động nguồn vốn USD.

Lợi và hại của việc duy trì tỉ trọng tín dụng ngoại tệ cao là gì, thưa ông?

Việc Ngân hàng Nhà nước cho phép các ngân hàng được huy động USD từ thị trường trong giai đoạn nguồn vốn tương đối khó khăn là một quyết định đúng đắn. Trong 5 tháng qua, việc huy động ngoại tệ đã tạo nên nguồn lực về vốn cho nền kinh tế.

Tuy nhiên, đã đến lúc nên cân nhắc giữa lợi và hại của việc duy trì tỉ trọng cho vay ngoại tệ quá lớn trong bảng cân đối của các ngân hàng. Với tỉ trọng lớn, trong bối cảnh mức độ đô la hóa của nền kinh tế tương đối cao, chúng ta cần phải có lộ trình và giải pháp càng sớm càng tốt để hạn chế tình trạng này. Qua đó, làm tăng thêm hiệu lực của chính sách tiền tệ. Vì vậy, việc siết chặt tình trạng tăng trưởng huy động và cho vay ngoại tệ trong thời gian tới là bước đi phù hợp.

Chúng ta có thể áp dụng các biện pháp tương tự như Thông tư 26/2009/TT-NHNN đối với các doanh nghiệp khác trong bối cảnh tỉ giá tương đối bình ổn hiện nay (Thông tư 26 quy định các tập đoàn, tổng công ty nhà nước có nghĩa vụ bán ngoại tệ cho tổ chức tín dụng được phép hoạt động ngoại hối và được quyền mua lại ngoại tệ trong phạm vi số ngoại tệ đã bán từ tổ chức tín dụng để phục vụ nhu cầu sử dụng ngoại tệ hợp lý).

Khi quy định bán lại ngoại tệ cho tổ chức tín dụng được áp dụng không chỉ đối với các doanh nghiệp nhà nước thì sẽ có thể tăng thêm nguồn cung ngoại tệ cho thị trường, qua đó ổn định tỉ giá và giảm bớt tình trạng đô la hóa.

Đối với doanh nghiệp xuất khẩu, các ngân hàng nên cho vay để khuyến khích xuất khẩu, tạo nguồn thu ngoại tệ. Đối với doanh nghiệp nhập khẩu và các dự án, nếu không có nguồn thu bằng ngoại tệ, Thông tư 25 vẫn cho phép họ tiếp cận vốn ngoại tệ. Tuy nhiên, khi vay, nên sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro. Đối với những doanh nghiệp nhập khẩu trong thời gian ngắn hạn, nếu dự báo tỉ giá tương đối bình ổn thì có thể chấp nhận rủi ro này. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, các doanh nghiệp không có nguồn thu ngoại tệ thì tốt nhất là nên áp dụng các công cụ bảo hiểm rủi ro tỉ giá.

Về lâu dài, việc duy trì tín dụng ngoại tệ nên được ứng xử thế nào để giảm tác động đến tỉ giá cũng như thị trường ngoại tệ và hạn chế tình trạng đô la hóa nền kinh tế?

Dư nợ tín dụng bằng ngoại tệ thực ra vẫn có thể duy trì được, kể cả khi chúng ta hạn chế các khoản đầu tư, tiền gửi, nhận tiền gửi bằng ngoại tệ. Dư nợ bằng ngoại tệ này sẽ được tài trợ bằng các khoản vay từ các định chế tài chính nước ngoài. Trong điều kiện kinh tế hiện nay, việc huy động từ nước ngoài là giải pháp quan trọng. Vì thế, nguồn thu từ các doanh nghiệp có khả năng tái tạo ngoại tệ và các dự án vẫn là nguồn vốn cần thiết. Tuy nhiên, việc huy động vốn ngoại tệ trong nước để tài trợ cho các dự án, đặc biệt là các dự án kỳ hạn dài sẽ gặp rủi ro ở nhiều góc độ.

Thứ nhất là từ phía doanh nghiệp. Có nhiều doanh nghiệp, dự án không có khả năng tái tạo ngoại tệ, nhưng theo quy định hiện nay, vẫn được vay bằng ngoại tệ. Như vậy, các doanh nghiệp này sẽ phải đối mặt với rủi ro tỉ giá, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp không có chuyên môn tài chính. Những doanh nghiệp vay ngoại tệ cho dự án, nếu không có nguồn thu bằng ngoại tệ thì nên sử dụng những công cụ phòng ngừa rủi ro tỉ giá.

Còn từ góc độ của Ngân hàng Nhà nước, thời gian qua đã có quy định các ngân hàng phải duy trì dư nợ không quá khả năng huy động vốn. Như vậy, các ngân hàng phải tìm nguồn vốn từ nước ngoài để cân đối.

Theo Vũ Dũng
Nhịp cầu đầu tư

thanhtu

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên