TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Bức tranh kinh tế vĩ mô Việt Nam năm 2017 có những điểm sáng nào?

Bức tranh kinh tế vĩ mô Việt Nam năm 2017 có những điểm sáng nào?

Mới đây Ngân hàng thế giới công bố báo cáo Taking Stock (Điểm lại) với những nhận định tích cực về bức tranh kinh tế Việt Nam năm 2017.

Như dự đoán trong “Điểm lại” Ngân hàng thế giới từng công bố hồi tháng 7, kinh tế toàn cầu tiếp tục tăng mạnh trong năm 2017. Hoạt động kinh tế đã tăng trở lại tại các nền kinh tế phát triển cũng như mới nổi, thương mại đang hồi phục, những điều kiện tài chính vẫn thuận lợi, giá cả hàng hóa đã tăng lên, mặc dù với tốc độ còn chậm.

Tăng trưởng GDP toàn cầu dự kiến ​​sẽ tăng lên khoảng 3% vào năm 2017. Trong bối cảnh chung toàn cầu, khu vực kinh tế đang phát triển Đông Á và Thái Bình Dương tiếp tục tăng trưởng tốt trong năm 2017, với mức tăng trưởng GDP dự kiến ​​sẽ tăng lên mức 6,4% trong năm nay. Đà tăng này được củng cố bởi nhu cầu nội địa và đẩy mạnh xuất khẩu, được hưởng lợi nguồn cầu toàn cầu được cải thiện.

Không ngoài xu hướng khu vực, nền kinh tế Việt Nam cũng tiếp tục giữ đà tăng trong năm 2017, phản ánh qua nhu cầu nội địa tăng mạnh sản xuất chế biến chế tạo tăng trưởng tích cực và sự phục hồi d của ngành nông nghiệp. GDP thực tăng trưởng 6,4% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm. Nhu cầu nội địa và đặc biệt là tiêu dùng cá nhân tiếp tục bùng nổ do động lực từ lạm phát thấp và tăng lương thực tế. Đồng thời, sự phục hồi của nhu cầu bên ngoài là lực đỡ cho các ngành Việt Nam theo hướng xuất khẩu và nông nghiệp.

Về phía sản xuất, tăng trưởng công nghiệp đã đạt 12,8% trong 9 tháng đầu năm, bù đắp cho sự sụt giảm của sản lượng dầu. Nông nghiệp cũng tiếp tục phục hồi từ đợt hạn hán năm ngoái, mở rộng 2,8% trong 3 quý đầu. Phản ánh tiêu dùng nội địa mạnh mẽ cũng như hiệu quả hoạt động mạnh mẽ của ngành du lịch, lĩnh vực dịch vụ đã mở rộng 7,3%.

Giữa áp lực về giá cả, chính sách tiền tệ và tín dụng tiếp tục mục tiêu đảm bảo cân bằng sự ổn định và các mục tiêu tăng trưởng. Chỉ số giá tiêu dùng CPI hiện ở mức trung bình 3,0% với lạm phát cơ bản ổn định ở mức 1,3% so với cùng kỳ trong tháng 10. Với điều kiện thuận lợi từ lạm phát giảm, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong tháng 7 cắt giảm lãi suất tái chiết khấu và tái cấp vốn 25 điểm cơ bản tương ứng 4,25 và 6,25%. Tăng trưởng tín dụng tính đến tháng 10 đạt mức 18,5%. Tuy nhiên Ngân hàng thế giới cũng quan ngại tăng tín dụng nhanh, đặc biệt nếu được thúc đẩy bởi các mục tiêu hành chính trái ngược với các nguyên tắc cơ bản về kinh tế, có thể gây ra nhiều rủi ro và phân bổ tín dụng kém hiệu quả cũng như dẫn đến tình trạng gia tăng nợ xấu. Trong khi đó, hiện hệ thống ngân hàng đang thực hiện nhiều bước quan trọng để tăng cường giải quyết nợ xấu (NPL), kể cả thông qua Nghị quyết 42 vào tháng 6 năm 2017.

Cán cân thanh toán của Việt Nam hiện thặng dư nhờ thặng dư thương mại, kiều hối dồi dào và các luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Nhu cầu bên ngoài đã giúp Việt Nam tăng cao sức mạnh xuất khẩu. Bằng chứng là sự gia tăng trên diện rộng cả về xuất khẩu nông nghiệp và sản xuất, kim ngạch xuất khẩu đạt được 174,5 USD (khoảng 86% GDP) trong 10 tháng đầu năm 2017, tăng 21,3 % so với cùng kỳ năm ngoái.

Tăng trưởng nhập khẩu cũng hồi phục trong năm 2017, do nhu cầu nhập khẩu hàng hóa máy móc phục vụ xuất khẩu. Đây cũng là những yếu tố phản ánh năng lực và hàm lượng của nền sản xuất phục vụ xuất khẩu của Việt Nam. Tài khoản vãng lai theo Ngân hàng thế giới hiện thặng dư khoảng 1,5% trong nửa đầu năm, không quá khác biệt so với năm ngoái. Tài khoản vốn vẫn thặng du, với phần lớn đến từ dòng vốn FDI cũng như dòng chảy của các nguồn tài trợ chính thức.

Nhờ dòng vốn ngoại tệ chảy vào mạnh mẽ, tỷ giá hối đoái tiếp tục giữ ổn định và dự trữ ngoại hối tiếp tục gia tăng. NHNN đã giữ tỷ giá danh nghĩa USD trong biên độ giao động hẹp với mức hạ giá 1,4% trong 10 hoặc 11 tháng. Điều này đã giúp duy trì hiệu quả thực tế của tỷ giá hối đoái tiền đồng và cho phép NHNN tiếp tục mở rộng dự trữ ngoại hối khoảng 5 tỷ USD trong 3 quý đầu năm, nâng tổng dự trữ quốc tế lên khoảng 42 tỷ USD vào cuối tháng 9, tương đương gần 3 tháng nhập khẩu.

Báo cáo ngân sách quốc gia đang được tiến hành hợp nhất và Ngân hàng thế giới đánh giá chất lượng và tính bền vững của việc điều chỉnh có thể được cải thiện. Các thâm hụt ngân sách đã thu hẹp đáng kể xuống dưới 2% GDP (hàng năm) trong 3 quý đầu năm, bao gồm nợ công và đảm bảo tuân thủ giới hạn 65% GDP theo quy định của pháp luật.

Về phía doanh thu, giảm thâm hụt đã được hỗ trợ bởi xu hướng gia tăng của hiệu quả nguồn thu. Về mặt chi tiêu, việc điều chỉnh đã giảm đáng kể đối với đầu tư công, giảm xuống còn 16% tổng chi tiêu trong 9 tháng đầu năm 2017, so với trung bình 25% trong giai đoạn 2012-16. Mặc dù có hiệu quả trong ngắn hạn, cách tiếp cận này không nhất thiết phải bền vững theo thời gian, như Việt Nam cần có những khoản đầu tư hạ tầng có ý nghĩa nhằm hỗ trợ cho tăng trưởng trong tương lai. Trong khi đó, lạm phát thấp và thanh khoản tốt đã góp phần tạo thuận lợi điều kiện trong thị trường trái phiếu trong nước với lợi tức ở mức thấp kỷ lục, cho phép chính phủ đáp ứng nhu cầu tài chính trong khi kéo dài thời gian đáo hạn và giảm chi phí nợ của các khoản nợ trong nước.

Tái cơ cấu nền kinh tế nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh và năng suất của nền kinh tế Việt Nam vẫn là một ưu tiên trung tâm. Xếp hạng của Việt Nam về môi trường hoạt động Kinh doanh của Ngân hàng Thế giới đã được cải thiện đáng kể lên mức 68 trong năm 2017 (từ 91 vào năm 2015) và đứng thứ 55 trong chỉ số năng lực cạnh tranh của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (từ 60 năm 2016), phản ánh những cải thiện trong môi trường kinh doanh tổng thể và khả năng cạnh tranh của Việt Nam.

Tiếp tục cải cách nhằm nâng cao chất lượng quản lý và để đảm bảo thực thi công bằng, hiệu quả và công bằng là điều cốt yếu cho Việt Nam tạo ra môi trường thuận lợi cho đầu tư của khu vực tư nhân, tăng trưởng kinh tế và tạo việc làm. Tuy nhiên tiến trình còn chậm hơn dự kiến, cải cách khu vực chiếm tỷ lệ lớn là doanh nghiệp nhà nước vẫn tiếp tục được thực hiện, với các khoản đầu tư dự kiến ​​từ các công ty nhà nước có lợi nhuận lớn và các bước tiếp theo để tăng cường quản trị doanh nghiệp nhà nước và minh bạch.

Nền kinh tế năng động của Việt Nam tiếp tục tạo việc làm và tăng lương thực tế nhanh chóng, dẫn đến việc mở rộng phúc lợi và giảm nghèo. Thu nhập hộ gia đình thực tế đang được hưởng lợi từ lạm phát thấp, tăng lương cơ sở sự tăng trưởng tiền lương danh nghĩa mạnh mẽ. Trong 3 năm qua, Việt Nam đã bổ sung 1,6 triệu việc làm mới, đặc biệt là trong các lĩnh vực định hướng xuất khẩu. Nhu cầu lao động trong xây dựng, bán lẻ và ngành khách sạn cũng tăng lên, với các lĩnh vực này cùng nhau thêm 700.000 việc làm.

Xu hướng chuyển đổi việc làm theo hướng sáng tạo hơn đã phần nào có tác dụng chuyển đổi cơ cấu và phân bổ lại lao động sang các hoạt động có năng suất cao hơn, qua đó tăng năng suất lao động tổng hợp. Nhu cầu lao động cũng góp phần vào tăng trưởng tiền lương nhanh, trung bình tiền lương danh nghĩa tăng trung bình khoảng 8% giữa Q1 2014 và Q1 2017. Do đó, nghèo đói tiếp tục giảm, với mức đói nghèo cùng cực ước tính đã giảm xuống dưới 2%, sử dụng chương trình quốc tế chuẩn nghèo (1,90 USD một ngày).

Theo Thảo Nguyên

Nhịp Sống Kinh Tế

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên