TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Đối phó với rủi ro gian lận

23-08-2008 - 17:00 PM | Doanh nghiệp

Đối phó với rủi ro gian lận

Hậu quả của gian lận có thể là nợ, phá sản..., tác động tới uy tín công ty khiến giá cổ phiếu giảm

Một trong những chuyên đề được nhiều DN chú ý trong buổi hội thảo về chuẩn mực kiểm toán và cổ phần hoá do Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) và Công ty TNHH KPMG Việt Nam tổ chức trong 2 ngày 20 - 21/8 là quản lý rủi ro gian lận.

Theo ông Đàm Xuân Lâm, Trưởng phòng cao cấp Bộ phận dịch vụ kiểm toán, KPMG, DN xây dựng được hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả sẽ hỗ trợ ban giám đốc tối đa hóa giá trị cổ đông, giúp giảm chi phí hoạt động và chi phí sửa chữa sai sót.

Đề cập đến các loại gian lận, chuyên gia của KPMG chỉ ra 3 dạng phổ biến nhất, bao gồm tham ô tài sản, tham nhũng và báo cáo tài chính gian lận. Với TTCK, mối quan tâm lớn nhất của cổ đông và nhà đầu tư là những gian lận liên quan đến báo cáo tài chính, thể hiện dưới 5 hình thức.

Thứ nhất là che dấu các khoản nợ phải trả với âm mưu làm sai lệch báo cáo tài chính bằng cách ghi nhận sai các khoản nợ phải trả hoặc chi phí. Chẳng hạn, tổ chức niêm yết bỏ sót các chi phí hoặc nợ phải trả lớn trên báo cáo tài chính, ghi nhận chi phí phát sinh từ doanh thu là chi phí đầu tư, làm tăng một cách giả tạo về thu nhập ròng và tổng tài sản trong kỳ kế toán hiện tại.

Loại thứ hai là tạo doanh thu giả với âm mưu thổi phồng báo cáo tài chính bằng cách ghi nhận doanh thu bán hàng hóa hoặc dịch vụ không có thực, hoặc ghi tăng doanh thu thực tế. Ví dụ, DN ghi nhận doanh thu từ bán hàng tồn kho cho khách hàng không tồn tại hoặc xuất hóa đơn bán hàng cho khách hàng có tồn tại nhưng thực tế hàng hóa không được giao, doanh thu sẽ được ghi đảo tại đầu kỳ kế toán tiếp theo.

Hình thức gian lận thứ ba là đánh giá tài sản không đúng, theo đó giá trị tài sản của DN được đánh giá sai một cách gian lận trên báo cáo tài chính. Ví dụ, DN không xóa sổ hàng tồn kho lỗi thời, ghi tăng các khoản phải thu bằng cách ghi sổ các khoản doanh thu không có thật cho những khách hàng không tồn tại.

Một hình thức gian lận phổ biến khác là giải trình sai sự thật, trong đó ban giám đốc không công bố những thông tin trọng yếu trên báo cáo tài chính của DN khiến những người sử dụng báo cáo tài chính bị hiểu lầm.

Ví dụ, báo cáo tài chính của DN không thuyết minh về những khoản nợ tiềm ẩn trọng yếu có thể phát sinh từ một bảo lãnh của công ty cho các khoản vay cá nhân của nhân viên. Hay báo cáo tài chính của DN không thuyết minh về việc một trong những nhà cung cấp lớn nhất của họ thuộc quyền sở hữu của chủ tịch tập đoàn.

Lưu ý thứ năm là khác biệt về kỳ ghi nhận, với chủ ý cố tình làm sai lệch báo cáo tài chính bằng cách ghi nhận doanh thu vào kỳ kế toán khác với kỳ mà chi phí tương ứng phát sinh. Ví dụ, DN điều chỉnh thu nhập ròng bằng cách ghi nhận doanh thu phát sinh trong tháng 12 của năm thứ nhất nhưng đến tận tháng 1 của năm thứ hai mới ghi nhận chi phí tương ứng.

Theo KPMG, các DN Mỹ mất khoảng 5% doanh thu vì gian lận, điều này tương đương với khoản tổn thất có thể xảy ra trị giá 652 triệu USD/năm trên toàn nước Mỹ.

Hậu quả của gian lận có thể là nợ, phá sản, mất lòng tin của khách hàng, giảm doanh thu, tác động tiêu cực tới uy tín của công ty khiến giá cổ phiếu giảm, đặc biệt dẫn tới ý thức của nhân viên kém, năng suất lao động thấp, không giữ và thu hút được nhân viên có năng lực.

Gian lận được phát hiện chủ yếu thông qua thông báo của nhân viên, người bán hàng, khách hàng… chiếm 34,2%; qua ngẫu nhiên chiếm 25,4%; tiếp theo là kiểm toán nội bộ, kiểm soát nội bộ và kiểm toán độc lập.

Rủi ro gian lận, theo các chuyên gia, có thể giảm khi có sự kết hợp giữa phòng ngừa ngăn chặn và các biện pháp phát hiện. Các DN nên chủ động trong việc giảm khả năng xảy ra gian lận bằng cách xác định và đo lường rủi ro, tiến hành các hoạt động nhằm giảm bớt rủi ro đã được xác định.

Một khuyến nghị đưa ra là yêu cầu DN xây dựng chương trình cảnh báo ngầm, gồm đường dây nóng, email, hòm thư. DN có thể thiết kế đường dây điện thoại chuyên dụng với mục đích để mọi nhân viên có thể thông báo bất kỳ nghi ngờ nào về các hành vi gian lận, tham nhũng hoặc những hành vi thiếu đạo đức. DN cũng có thể thiết kế email nhằm bảo đảm thông tin về người gửi được giữ bí mật.

Ngoài ra, có thể thiết lập một địa chỉ bưu điện hay hòm thư để nhân viên trong công ty có thể thông báo bất kỳ nghi ngờ nào về các hành vi gian lận, tham nhũng hoặc những hành vi thiếu đạo đức. Các thông tin liên quan đến những cảnh báo cụ thể được ghi chép lại, hàng tuần những thông tin này sẽ được chuyển đến người có trách nhiệm trong công ty.

Trong trường hợp khẩn cấp, thông tin này sẽ được thông báo ngay lập tức đến một người có trách nhiệm trong nhóm xử lý các hành vi gian lận. Ban giám đốc sẽ là người quyết định, liệu có cần điều tra những cảnh báo được nêu ra hay không.

Theo Thủy Nguyễn
ĐTCK

phuongmai

CÙNG CHUYÊN MỤC
XEM