MỚI NHẤT!

Đọc nhanh >>

Triển vọng các kênh đầu tư năm 2023

22-01-2023 - 17:59 PM | Tài chính - ngân hàng

Triển vọng các kênh đầu tư năm 2023

Năm 2023, kinh tế Việt Nam được dự báo tiếp tục gặp nhiều khó khăn, khi có tới 1/3 nền kinh tế trên thế giới có thể suy giảm vào năm nay và năm tới; GDP toàn cầu sẽ chỉ tăng trưởng khoảng 2,2 - 2,5% năm 2023.

Lợi suất của các kênh đầu tư năm 2022

Kênh tiền gửi tiết kiệm ngân hàng:

Trong bối cảnh kinh tế bất ổn, kênh đầu tư an toàn như tiền gửi tiết kiệm nên được xem xét, quan tâm hơn. Trong quý 1 và quý 2 năm 2022, lãi suất huy động được duy trì ở mức thấp để hỗ trợ cho việc giảm lãi suất cho vay, giúp tăng tốc phục hồi kinh tế. Tuy nhiên, từ quý 3/2022, tiền gửi vào hệ thống các TCTD năm 2022 tăng rất chậm, đến hết tháng 11 mới đạt 5,5% (cả năm 2021 đạt 9%), chỉ bằng gần một nửa so với tốc độ tăng trưởng của tín dụng (12,2%). Do đó, để đảm bảo thanh khoản, các NHTM đã bắt đầu tăng lãi suất huy động. Vào cuối tháng 11/2022, lãi suất huy động tại một số ngân hàng đã lên tới 9-10% cho kỳ hạn 12 tháng (năm 2021 lãi suất tiền gửi 12 tháng bình quân vào khoảng 5,4-6,8%/năm).

Lãi suất gửi tiết kiệm thực từ đầu năm 2022 là 4-5%. Tính đến cuối tháng 12/2022, lãi suất huy động cá nhân trung bình kỳ hạn 12 tháng của 4 NHTMNN là 7,4%, tăng 1,83 điểm % so với đầu năm; còn lãi suất huy động tổ chức trung bình kỳ hạn 12 tháng là 6,4%, tăng 1,43 điểm % so với đầu năm (thống kê của Viện Đào tạo & Nghiên cứu BIDV). Do việc tăng lãi suất chỉ diễn ra từ quý 3/2022, nên chưa tác động nhiều đến thu từ tiền gửi tiết kiệm của người gửi tiền cả năm 2022. Nếu loại trừ đi yếu tố lạm phát, thì người gửi tiết kiệm từ đầu năm 2022 được hưởng lãi suất thực dương vào khoảng 4-5%.

Đối với thị trường chứng khoán (TTCK):

Trong năm 2022, thị trường cổ phiếu Việt Nam đang ở trong giai đoạn điều chỉnh sau khi đã trải qua một giai đoạn tăng giá kéo dài. Từ đầu năm đến hết ngày 15/12/2022, VN-Index giảm từ mức khoảng 1.500 điểm xuống 1.050,28 điểm (giảm gần 30%). Ngoài sự suy giảm về quy mô, thị trường cổ phiếu cũng không còn giữ được sự sôi động như cuối năm 2021. Thanh khoản của thị trường đã sụt giảm đáng kể, giá trị giao dịch bình quân trên sàn HOSE trong tháng 11 chỉ còn 11,4 nghìn tỷ VND/phiên, giảm 42% so với cuối năm 2021.

Trên thị trường trái phiếu Chính phủ, đến hết tháng 11, Kho bạc Nhà nước đã phát hành tổng cộng 182.222 tỷ đồng TPCP, tương ứng 46% kế hoạch năm 2022 (400.000 tỷ đồng) và đạt 85% kế hoạch điều chỉnh dự kiến năm 2022 (215.000 tỷ đồng).

Số lượng giao dịch trên thị trường cũng ảm đạm hơn: giá trị giao dịch trung bình/ngày của giao dịch Outright ở mức 1.367 tỷ đồng/ngày (giảm 42,4% so với tháng trước) và Repo là 1.864 tỷ đồng/ngày (giảm 23,7% so với tháng trước). So với cùng kỳ năm trước, khối lượng giao dịch Outright tháng 11 giảm 83,5% và khối lượng giao dịch Repo giảm 68,7%.

Đối với trái phiếu doanh nghiệp (TPDN), về quy mô thị trường, theo Hiệp hội Trái phiếu Việt Nam (VBMA), tổng quy mô phát hành TPDN 11 tháng đầu năm 2022 chỉ đạt khoảng 336 nghìn tỷ đồng, giảm hơn 57% so với cùng kỳ năm 2021 (trong đó phát hành ra công chúng giảm 60%, phát hành riêng lẻ giảm 56%). Không chỉ giảm mạnh về giá trị phát hành, nhiều doanh nghiệp đang chủ động mua lại trái phiếu đã phát hành, tổng giá trị mua lại khoảng 163 nghìn tỷ đồng, tăng 32% so với cùng kỳ. Đặc biệt, sau sự việc Vạn Thịnh Phát, việc mua lại trái phiếu trước hạn càng tăng mạnh. Trong khi đó, các nhà đầu tư đầu tư vào trái phiếu Vạn Thịnh Phát lại đang gặp khó khăn trong việc thu hồi lại vốn. Điều này cho thấy rủi ro của kênh đầu tư TPDN là khá lớn.

Đối với kênh đầu tư bất động sản (BĐS):

Trong năm 2022, BĐS tiếp tục là một kênh đầu tư được quan tâm. Trong 6 tháng đầu năm 2022, thị trường BĐS Việt Nam diễn biến khá tích cực, thể hiện sự phục hồi mạnh mẽ sau dịch bệnh. Tuy nhiên, bắt đầu từ quý 3, thị trường có dấu hiệu chững lại, phân hóa; chủ yếu do việc tiếp cận nguồn vốn bị hạn chế (do hạn mức tín dụng đã hết, các cá nhân khó vay tiền để mua nhà), một số vụ việc xảy ra (Tân Hoàng Minh, Vạn Thịnh Phát…) làm ảnh hưởng đến niềm tin của nhà đầu tư và nhìn chung, một số vấn đề “căn cơ” của thị trường chưa được giải quyết (nguồn cung khan hiếm, mất cân đối cung - cầu, giá còn cao…). Về giá, theo thống kê của Bộ Xây dựng, tới thời điểm hết Quý 3/2022, giá các chung cư đang có dấu hiệu tăng (không còn nguồn cung căn hộ với mức giá dưới 25 triệu VND/m2 tại khu vực gần trung tâm Hà Nội và TP.HCM), trong khi giá nhà ở, đất nền lại có xu hướng giảm.

Theo thống kê của Batdongsan.com.vn, lợi suất cho thuê nhà phố bình quân tại Hà Nội đạt 3%/năm trong 9 tháng đầu năm, ở TP.HCM là 2,9%/năm.

Các mức này điều thấp hơn mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm, cho thấy lợi nhuận khi đầu tư vào thị trường BĐS hiện không cao và có thể phải đến quý 3 hoặc đầu quý 4/2023 mới có thể hồi phục dần dần.

Đối với thị trường vàng:

Năm 2022, giá vàng SJC đã lập đỉnh mới, đạt hơn 73 triệu đồng/lượng vào tháng 3/2022, sau đó giảm nhẹ và tại thời điểm 13/12/2022 đạt 67,15 triệu đồng/lượng. Lợi nhuận trong năm qua từ đầu tư vàng SJC, vì vậy, rơi vào khoảng 8%, cho thấy vàng là một kênh đầu tư an toàn, ổn định (năm 2021 cũng mang lại lợi nhuận khoảng 8-10%). Tuy nhiên, mức sinh lời ở mức trung bình và thanh khoản thị trường không nhộn nhịp như giai đoạn trước năm 2015.

Triển vọng các kênh đầu tư năm 2023

Dự báo năm 2023 sẽ là một năm còn có nhiều thách thức cho kinh tế Việt Nam, từ những biến động bên ngoài (xung đột NgaUkraine, khủng hoảng năng lượng tại châu Âu, một số nền kinh tế rơi vào suy thoái nhẹ, kinh tế Trung Quốc vẫn tăng trưởng chậm, rủi ro tài chính - tiền tệ vẫn ở mức cao…) đến các vấn đề nội tại (áp lực lạm phát, tỷ giá, lãi suất tăng vẫn còn; rủi ro trên thị trường TPDN, cổ phiếu, bất động sản cần có thời gian để khắc phục; ảnh hưởng biến đổi khí hậu...). Do đó, Viện Đào tạo & Nghiên cứu BIDV dự báo kinh tế Việt Nam có thể tăng trưởng khoảng 6-6,5% trong năm 2023 theo kịch bản cơ sở (so với mức 8% năm 2022). Lạm phát cũng sẽ cao hơn, CPI bình quân dự báo tăng 4-4,5%.

Tiền gửi tiết kiệm, trong bối cảnh kinh tế đối mặt với nhiều bất ổn, sẽ là một kênh đầu tư đáng để xem xét. Cùng với đó, việc FED được dự báo sẽ tiếp tục tăng lãi suất đến hết quý 1/2023, từ đó còn ảnh hưởng tới mặt bằng lãi suất tại Việt Nam trong cả năm tới (do có độ trễ); áp lực lạm phát, lãi suất và tỷ giá tăng còn hiện hữu sẽ khiến lãi suất huy động vốn nhiều khả năng vẫn sẽ được duy trì ở mức cao trong năm 2023. Đây là điểm tích cực dành cho các nhà đầu tư, nhưng cũng có thể khiến dòng vốn vào các kênh đầu tư khác bị ảnh hưởng, làm giảm thanh khoản và có thể gây ra vòng xoáy suy giảm tại các kênh cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản.

Đối với kênh TTCK:

Về tổng thể, triển vọng của thị trường cổ phiểu Việt Nam vẫn tích cực, khi tăng trưởng GDP năm 2023, dù có giảm, vẫn dự báo ở mức cao so với thế giới, lạm phát tiếp tục được kiểm soát. Đợt điều chỉnh này của thị trường cũng khiến cho mức định giá của các cổ phiếu trên thị trường trở về mức hấp dẫn với các nhà đầu tư, đặc biệt là nhà đầu tư dài hạn (P/E của VNIndex trong tháng 11 đã giảm xuống khoảng 10 lần – mức mà thị trường mới chỉ 2 lần chạm phải vào năm 2008 và 2012). Trên thực tế, các nhận định này đã phần nào được thể hiện qua việc tổng giao dịch của khối ngoại trên sàn giao dịch HOSE đạt hơn 64 nghìn tỷ VND, tăng 5% so với tháng 12/2021.

Trong đó, quan trọng nhất là việc khối này đã mua ròng hơn gần 15 nghìn tỷ VND trong tháng 11, qua đó đã đảo chiều quy mô giao dịch ròng tính từ đầu năm thành mua ròng gần 12 nghìn tỷ VND từ mức bán ròng hơn 3,2 nghìn tỷ VND ở cuối tháng 10. Các hành vi sai phạm như thao túng thị trường bị xử lý cũng giúp thị trường trở nên lành mạnh hơn. Do đó, thị trường cổ phiếu hiện nay có thể phù hợp với các nhà đầu tư chấp nhận rủi ro cao hơn và theo giá trị, dài hạn. Nhiều khả năng chỉ số chứng khoán (VNIndex) sẽ phục hồi nhẹ, tăng khoảng 10-15% trong năm 2023.

Về thị trường trái phiếu, việc ban hành Nghị định 65/2022/NĐ-CP phần nào giúp thị trường trở nên an toàn và phát triển bền vững hơn, nhưng cũng cần có lộ trình phù hợp hơn. Bên cạnh đó, trong năm 2022, các cơ quan quản lý đã quyết liệt xử lý các vi phạm liên quan đến phát hành TPDN (như trường hợp của Tân Hoàng Minh và Vạn Thịnh Phát…), qua đó giúp thị trường phát triển bền vững hơn trong dài hạn. Tuy nhiên, do Nghị định 65 đã siết chặt hoạt động phát hành TPDN riêng lẻ, trong khi việc phát hành ra công chúng khá tốn kém về thời gian, công sức khiến việc phát hành TPDN suy giảm mạnh (từ tháng 10/2022, mới có hơn 10 nghìn tỷ đồng TPDN phát hành mới, trong khi 9 tháng đầu năm là 326 nghìn tỷ đồng). Bên cạnh đó, quy định về nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp khắt khe hơn, khiến số lượng nhà đầu tư cá nhân có thể mua TPDN riêng lẻ giảm đi. Để tháo gỡ khó khăn hiện tại và năm tới, dự kiến Nghị đình 65 sẽ được sửa đổi theo hướng cởi mở hơn sẽ tạo điều kiện khôi phục thị trường TPDN trong 1 - 2 năm tới Tuy nhiên, đây vẫn là một thị trường có nhiều rủi ro, không phù hợp với phần đông các nhà đầu tư cá nhân, thiếu chuyên nghiệp.

Thời điểm hiện nay, kênh đầu tư trái phiếu doanh nghiệp phù hợp những nhà đầu tư có kiến thức về thị trường tài chính và có khả năng phân tích tình trạng hoạt động của doanh nghiệp.

Đối với thị trường BĐS:

Các chuyên gia nhận định rằng, khó khăn của thị trường hiện tại xuất phát từ khủng hoảng niềm tin do tác động của những vụ việc của Tân Hoàng Minh, FLC, Vạn Thịnh Phát. Ngoài ra, việc giá BĐS đã tăng quá cao và người dân không tìm được nguồn vốn tín dụng cũng sẽ khiến lượng giao dịch BĐS giảm đi từ quý 3/2022. Tuy nhiên, với triển vọng phát triển kinh tế tương đối tích cực, cùng với việc các cơ quan quản lý đang quyết liệt xử lý các vi phạm thì thị trường bất động sản được kỳ vọng sẽ phục hồi từ quý III hoặc quý IV/2023. Lý do chính ở đây là: (i) các ngân hàng trung ương trên thế giới vẫn sẽ tăng lãi suất trong quý I, quý II/2023, khiến lãi suất của ngân hàng Việt Nam vẫn còn ở mức cao trong năm2023; (ii) lực cầu thị trường, nhất là các phân khúc như BĐS nhà ở, khu công nghiệp…; (iii) các vụ việc vi phạm và vấn đề TPDN đáo hạn cơ bản được giải quyết.

Đối với thị trường vàng:

Trong bối cảnh kinh tế còn nhiều bất định, rủi ro, đầu tư vàng sẽ trở nên hấp dẫn hơn với các nhà đầu tư bởi tính an toàn, ổn định. Tuy nhiên, như trên đã nêu, mức sinh lời chỉ ở mức trung bình và thanh khoản thị trường vừa phải do Chính phủ, NHNN kiên định chính sách ổn định thị trường vàng và giảm tình trạng ''vàng hóa'' trong nền kinh tế.

Kết luận: Phân chia theo khẩu vị rủi ro từ thấp tới cao, kênh tiền gửi tiết kiệm và vàng vẫn được coi là an toàn, nhất là kênh gửi tiết kiệm vẫn hấp dẫn đối với nhiều NĐT trong bối cảnh lãi suất huy động được dự báo sẽ duy trì ở mức cao trong năm 2023. Bất động sản, chứng khoán có thể tiếp tục là kênh đầu tư hấp dẫn, nhưng ứng với mức độ rủi ro cao hơn. NĐT nên quyết định theo khẩu vị rủi ro, năng lực tài chính và mức độ hiểu biết, kinh nghiệm của mình.

Theo TS. CẤN VĂN LỰC VÀ NHÓM TÁC GIẢ VIỆN ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU BIDV

Nhà đầu tư

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên