img

Cuối năm 1987, cuộc làm việc đặc biệt kéo dài từ chiều đến tận 22 giờ đêm giữa ông Lê Văn Châu – khi đó đang công tác tại Ngân hàng Nhà nước và các lãnh đạo cấp cao gồm Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch nước Võ Chí Công, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng. Bữa tối bị hoãn, chuyến bay đêm của ông Châu cũng phải hủy. Tất cả thời gian của cuộc họp được dành để mổ xẻ một chủ đề hoàn toàn xa lạ thời bấy giờ: Cách thức vận hành nền kinh tế Mỹ, phương thức phát hành trái phiếu Chính phủ và hoạt động của thị trường vốn.

Sự chú ý sâu sắc của giới lãnh đạo đêm hôm đó đã nhen nhóm tư tưởng về việc xây dựng một thị trường vốn tại Việt Nam. Bốn năm sau, những khái niệm từng được bàn thảo trong đêm đã trở thành một đề xuất cụ thể. Đầu năm 1991, trong một cuộc họp cấp cao bàn giải pháp tháo gỡ cơn "khát vốn" để tái thiết đất nước, ông Lê Văn Châu chính thức kiến nghị: Cần nghiên cứu xây dựng thị trường chứng khoán.

Tuy nhiên, con đường từ một ý tưởng đến sự hiện diện của một thể chế tài chính mới không hề đơn giản. Ở thời điểm đưa ra đề xuất, chính ông Lê Văn Châu cũng thừa nhận, chứng khoán vẫn là một khái niệm hết sức mơ hồ với thực tiễn Việt Nam những năm đầu đổi mới.

Chiếc ghế Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đầy bất ngờ và hành trình “khai sinh” thị trường từ con số không - Ảnh 1.

Sau những năm đầu Đổi mới, nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng bùng nổ. Nguồn viện trợ tín dụng từ Liên Xô, Đông Âu suy giảm mạnh, trong khi các ngân hàng thương mại luôn phải gồng mình quá sức lo vốn cho toàn bộ nền kinh tế. Sự mất cân đối này mang lại rủi ro rất lớn cho cả hệ thống tín dụng lẫn bản thân doanh nghiệp. Thực tiễn đòi hỏi nền kinh tế phải có một kênh dẫn vốn mới để giảm tải áp lực cho hệ thống ngân hàng.

Tại cuộc họp đầu năm 1991 do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười chủ trì, khi phương án tiếp tục phát hành trái phiếu quốc gia được đặt lên bàn cân và cho thấy chưa đủ sức gánh vác nhu cầu vốn dài hạn, ông Lê Văn Châu đã đưa ra đề xuất thành lập thị trường chứng khoán.

Ý tưởng này không đến một cách ngẫu nhiên. Từng tham gia tổ chức B29 trên "tuyến đường tiền tệ đặc biệt" thời kháng chiến, sau đó được cử đi đào tạo và làm việc tại các định chế tài chính quốc tế, ông Châu đã sớm tiếp cận những phương thức huy động vốn ngoài hệ thống ngân hàng. Nhưng một thị trường chứng khoán vận hành tại Mỹ hay Hồng Kông khác xa với điều kiện Việt Nam thời điểm đó. Đề xuất càng trở nên nhạy cảm khi "chứng khoán" vẫn thường bị gắn với hai chữ "tư bản", kéo theo không ít băn khoăn về tính phù hợp với mô hình kinh tế mà đất nước đang xây dựng.

Chiếc ghế Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đầy bất ngờ và hành trình “khai sinh” thị trường từ con số không - Ảnh 2.

Sau khi nghe ông Châu trình bày, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười trầm ngâm hồi lâu. Cuối cùng ông đồng ý giao Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính, Ban Kinh tế Trung ương và Hội đồng Tài chính Tiền tệ Quốc gia phối hợp nghiên cứu đề án.

Chủ trương tiếp tục đối mặt với phép thử lớn nhất tại cuộc họp Bộ Chính trị. Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng - đồng chí Phạm Văn Đồng đặt ra hàng loạt câu hỏi sắc bén về sự cần thiết và cách thức xây dựng: "Tại sao một nước xã hội chủ nghĩa lại cần thị trường chứng khoán? Thị trường này sẽ vận hành ra sao và phục vụ ai?". Tổng Bí thư Đỗ Mười cũng đặt ra những trăn trở đầy thận trọng về tính chất giai cấp của dòng vốn.

Trước những nghi ngại từ cấp cao nhất, ông Lê Văn Châu điềm tĩnh giải trình: Chứng khoán không phải là tài sản riêng của chủ nghĩa tư bản, mà là sản phẩm văn minh của tri thức nhân loại. Đó là công cụ huy động nguồn lực tiềm ẩn trong dân chúng và tổ chức để phục vụ phát triển kinh tế quốc gia, hoàn toàn có thể vận hành dưới sự quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Khi câu hỏi cốt lõi khác được đặt ra: "Chúng ta xây dựng thị trường chứng khoán theo cách nào?", ông Châu đáp lời trực diện: "Chúng ta xây dựng thị trường chứng khoán theo cách của chúng ta, của Việt Nam, mang đặc thù Việt Nam".

Câu trả lời trực diện ấy đã giải quyết được những vướng mắc về mặt tư tưởng. Cố vấn Phạm Văn Đồng chốt lại bằng một câu nói mở đường: "Tôi hỏi để xem đồng chí nghĩ sao về vấn đề này, nhưng mà đồng chí nói thế thì Việt Nam ta phải làm thôi".

Chiếc ghế Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đầy bất ngờ và hành trình “khai sinh” thị trường từ con số không - Ảnh 3.

Nút thắt tư duy được tháo gỡ. Chủ trương nghiên cứu thành lập thị trường chứng khoán chính thức được "bật đèn xanh". Nhưng rời phòng họp, những người gánh vác sứ mệnh lập tức đối mặt với một thực tế: Xây dựng bằng cách nào khi chưa ai thực sự biết nó vận hành ra sao?

Chiếc ghế Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đầy bất ngờ và hành trình “khai sinh” thị trường từ con số không - Ảnh 4.

Nhận lệnh mở đường, năm 1992, Ngân hàng Nhà nước quyết định tập hợp một "nhóm nghiên cứu" lâm thời quy tụ những cán bộ trẻ được đào tạo bài bản nhất lúc bấy giờ. Cuộc họp lịch sử đầu tiên của nhóm được diễn ra tại Hội trường 17, Bến Chương Dương (TP.HCM).

Những người ngồi trong căn phòng năm ấy như đồng chí Nguyễn Đoan Hùng (sau này là Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước), đồng chí Vũ Bằng (sau này là Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước), đồng chí Vũ Thị Kim Liên (sau này là Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước), đồng chí Dương Thu Hương (sau này là Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước)...đều mang trong mình một áp lực lớn: Làm sao để đặt được những viên gạch đầu tiên cho một thị trường tài chính của đất nước, trong khi tất cả đều bắt đầu từ con số không?

Trong hồi ký của mình, ông Lê Văn Châu ví thị trường chứng khoán giống như một con voi, còn những người nghiên cứu ban đầu như người "sờ voi": Mỗi nhóm mới chỉ tiếp cận được một phần, chưa ai hình dung được đầy đủ hình hài của thị trường mà mình đang được giao nhiệm vụ xây dựng.

Để nhìn rõ hơn mô hình cần xây dựng, không còn cách nào khác ngoài việc bước ra thế giới để học hỏi. Nhưng bài toán đặt ra không đơn giản là tìm một thị trường phát triển rồi mang mô hình đó về Việt Nam. Điều khiến ông Châu và những cộng sự trăn trở hơn cả là làm sao chắt lọc được những kinh nghiệm quý báu của quốc tế, trong khi vẫn phải phù hợp với thể chế kinh tế, trình độ phát triển và nền tảng công nghệ còn nhiều hạn chế của đất nước lúc bấy giờ.

Các cán bộ Ngân hàng Nhà nước lần lượt được cử tham dự hội thảo, nghiên cứu kinh nghiệm từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc, các nước ASEAN đến Anh, Mỹ. Mỗi chuyến trở về là những tập tài liệu, những bản ghi chép dày thêm, từng bước ghép nối những kiến thức còn rời rạc. Những thành công trong huy động vốn dài hạn của các thị trường phát triển tiếp thêm niềm tin, nhưng các diễn biến tiêu cực tại Trung Quốc và Thái Lan cũng nhắc nhở họ về cái giá của sự nóng vội.

Tháng 11/1992, một đoàn công tác do ông Nguyễn Văn Trứ khi đó là Giám đốc Ngân hàng Nhà nước TP Hồ Chí Minh làm Trưởng đoàn, cùng TS. Trần Du Lịch và ông Bùi Nguyên Hoàn (sau này là Trưởng đại diện cơ quan Ủy ban Chứng khoán Nhà nước tại TP Hồ Chí Minh) sang Hồng Kông, Singapore và Malaysia để quan sát cách vận hành các sàn giao dịch. Chứng kiến nhịp đập tài chính sôi động của khu vực, TS. Trần Du Lịch khi đó từng đưa ra đề xuất: Có thể nghiên cứu đưa thị trường chứng khoán vào hoạt động ngay trong năm 1992.

Chiếc ghế Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đầy bất ngờ và hành trình “khai sinh” thị trường từ con số không - Ảnh 5.

Tuy nhiên, đội ngũ nghiên cứu ở Trung ương nhận thấy những điều kiện căn bản vẫn chưa sẵn sàng: Kiến thức nghiệp vụ còn thiếu, công chúng chưa quen với chứng khoán, đặc biệt nền kinh tế có quá ít công ty cổ phần. Muốn mở chợ nhưng lại chưa có "hàng hóa" (cổ phiếu) để giao dịch, nghịch lý ấy buộc phương án mở sàn năm 1992 phải tạm gác lại.

Không thể nóng vội mở cửa, công việc chuẩn bị càng phải đi vào chiều sâu. Tận dụng sự hỗ trợ từ các định chế tài chính quốc tế đang tìm đến Việt Nam tư vấn, một đoàn 4 cán bộ nòng cốt (gồm các đồng chí Nguyễn Công Nghiệp, Trần Xuân Hà, Nguyễn Đoan Hùng, Vũ Bằng) được cử sang Tập đoàn Daiwa (Nhật Bản). Đây là chuyến tu nghiệp chuyên sâu đầu tiên của Việt Nam về chứng khoán.

Gần hai tháng sinh hoạt trong ký túc xá, họ cặm cụi ghi chép từng khái niệm vỡ lòng về khớp lệnh, lưu ký và thanh toán bù trừ. Trong các chuyến công tác sang Nhật, ông Lê Văn Châu đều dành thời gian ghé thăm, dặn dò nhóm cán bộ trẻ chắt lọc kỹ từng nghiệp vụ để mang về áp dụng thị trường trong nước.

Cánh cửa học hỏi còn rộng mở qua những cuộc tiếp xúc với các định chế tài chính lớn như Merrill Lynch từ Phố Wall hay Nomura của Nhật Bản, khi những tổ chức này tìm đến Việt Nam tư vấn, trao đổi kinh nghiệm và tìm hiểu cơ hội đầu tư tại thị trường tương lai.

Từng mảnh ghép kiến thức dần được tập hợp, hệ thống hóa. Ngày 6/11/1993, Ngân hàng Nhà nước chính thức thành lập Ban Nghiên cứu xây dựng và phát triển thị trường vốn, do ông Nguyễn Đoan Hùng làm Trưởng ban, ông Vũ Bằng làm Phó ban.

Sự ra đời của Ban Nghiên cứu đánh dấu một bước chuyển quan trọng: Từ những chuyến khảo sát mang tính tìm hiểu, công việc chuẩn bị cho thị trường đã có một bộ máy thường trực gánh vác trách nhiệm.

Chiếc ghế Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đầy bất ngờ và hành trình “khai sinh” thị trường từ con số không - Ảnh 6.
Chiếc ghế Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đầy bất ngờ và hành trình “khai sinh” thị trường từ con số không - Ảnh 7.

Song song với quá trình chuẩn bị nhân sự, việc xây dựng hành lang pháp lý cũng từng bước được đẩy mạnh. Tháng 9/1994, Ban soạn thảo Pháp lệnh về chứng khoán và thị trường chứng khoán chính thức ra đời. Ông Lê Văn Châu, khi đó là Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, trực tiếp tham gia. Từ chỗ đi học cách thế giới vận hành thị trường, những người mở đường giờ đây phải tự viết nên những quy tắc đầu tiên cho một thị trường chưa từng hiện diện ở Việt Nam.

Với sự hỗ trợ của Công ty Tài chính Quốc tế (IFC) thuộc Nhóm Ngân hàng Thế giới, các cán bộ trẻ miệt mài khảo cứu, sàng lọc hàng loạt tài liệu pháp lý quốc tế. Tuy nhiên, càng nghiên cứu nhiều mô hình, những người trong cuộc càng nhận rõ không thể bê nguyên khuôn mẫu của bất kỳ quốc gia nào về Việt Nam. Ông Lê Văn Châu sau này khẳng định thị trường chứng khoán Việt Nam không được thiết kế theo mô hình cụ thể của Mỹ, Pháp hay Trung Quốc. Đó phải là kết quả của sự học hỏi, chắt lọc và thích ứng với điều kiện và đặc thù của Việt Nam, đúng như quan điểm ông từng bảo vệ trước lãnh đạo Đảng.

Đến giai đoạn 1995–1996, công việc không còn dừng lại ở những bản thảo trên giấy. Yêu cầu thực tiễn đòi hỏi phải hình thành một cơ quan chuyên trách có đủ thẩm quyền để quản lý nhà nước về lĩnh vực chứng khoán. Tuy nhiên, việc bắt tay xây dựng cơ quan này lại mang một đặc thù chưa từng có tiền lệ.

Lộ trình xây dựng thị trường chứng khoán Việt Nam ngay từ đầu đã mang một đặc thù đi ngược quy luật thông thường. Tại nhiều quốc gia, cơ quan quản lý nhà nước chỉ xuất hiện khi thị trường tự do đã phát triển đến một quy mô nhất định, đòi hỏi phải có bàn tay điều tiết ở tầm vĩ mô. Còn ở Việt Nam, Nhà nước chọn cách đi trước một bước: Xây dựng cơ quan quản lý, đào tạo nhân sự và chuẩn bị khung khổ pháp lý cho một thị trường chưa hề tồn tại trong thực tế.

Chiếc ghế Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đầy bất ngờ và hành trình “khai sinh” thị trường từ con số không - Ảnh 8.

Chính tính chất chưa có tiền lệ ấy khiến bài toán lựa chọn người đứng đầu ngành chứng khoán rơi vào thế khó. Việc tìm kiếm một lãnh đạo vừa đủ tầm quản lý, vừa hiểu biết về một lĩnh vực hoàn toàn mới là vô cùng khó khăn. Nhiều phương án đã được đưa ra, từ việc cử lãnh đạo các bộ ngành kinh tế tổng hợp cho đến đề nghị Bộ trưởng Bộ Tài chính kiêm nhiệm Chủ tịch Ủy ban, nhưng đều không thành.

Trước tình thế ấy, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã trực tiếp gọi ông Lê Văn Châu lên trao đổi công việc. Được sự động viên của các thành viên lãnh đạo, vị Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đồng ý nhận nhiệm vụ.

Quyết định này của ông gặp không ít sự can ngăn từ đồng nghiệp và bạn bè. Nhiều người lo lắng ông đang ở một vị trí ổn định tại Ngân hàng Nhà nước, việc chuyển sang một lĩnh vực mới có thể ảnh hưởng đến sự nghiệp. Nhưng ông có một niềm tin kiên định: "Việt Nam đang cố gắng xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đã là kinh tế thị trường, nếu không có thị trường chứng khoán thì không thể gọi là kinh tế thị trường được".

Chiếc ghế Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đầy bất ngờ và hành trình “khai sinh” thị trường từ con số không - Ảnh 9.

Khi nhận nhiệm vụ, ông Châu đưa ra một đề xuất mang tính quyết định: Đặt tên cơ quan là "Ủy ban Chứng khoán Nhà nước" thay vì "Ủy ban Chứng khoán Việt Nam". Sự thay đổi trong từng nét chữ này mang ý nghĩa quan trọng về mặt thể chế. Tên gọi "Ủy ban Chứng khoán Nhà nước" khẳng định đây là một cơ quan trực thuộc Chính phủ, có đủ thẩm quyền pháp lý và vị thế hành chính để phối hợp, điều phối công việc liên quan giữa các bộ, ngành trong suốt hành trình kiến tạo thị trường sau này.

Chiếc ghế Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đầy bất ngờ và hành trình “khai sinh” thị trường từ con số không - Ảnh 10.

 Năm 1996, đứng trước những hoài nghi về việc liệu có quá sớm để thành lập một bộ máy quản lý khi quy mô nền kinh tế còn quá nhỏ bé, ông Lê Văn Châu vẫn kiên định bảo vệ thời điểm ra đời. Với tầm nhìn của một nhà quản lý kinh tế vĩ mô, ông nhận diện rõ: Sau trọn một thập kỷ Đổi mới dưới ngọn cờ Nghị quyết Đại hội VI, nền kinh tế đã vượt qua giai đoạn khủng hoảng khốc liệt nhất. Sự trỗi dậy của khu vực kinh tế tư nhân và làn sóng đầu tư mới chính là thời điểm chín muồi để tạo dựng một kênh huy động vốn dài hạn cho đất nước.

Ngày 28/11/1996, Chính phủ ban hành Nghị định 75/1996/NĐ-CP thành lập Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN). Tháng 4/1997, cơ quan này chính thức đi vào hoạt động.

Những ngày đầu tiên, bài toán cơ sở vật chất và nhân sự vô cùng thiếu thốn. Chưa có trụ sở riêng, UBCKNN phải đi mượn tạm không gian làm việc. Về bộ máy, cùng với 42 cán bộ chuyển sang từ Ban Nghiên cứu cũ, UBCKNN đã tiến hành một đợt tuyển dụng gắt gao, sàng lọc kỹ lưỡng từ hơn 200 hồ sơ để chọn ra 10 nhân sự mới. Bộ máy ban đầu chính thức hình thành với vỏn vẹn 66 con người gánh trên vai sứ mệnh đặt móng cho một ngành kinh tế.

Nhưng hoàn cảnh lúc bấy giờ lại vô cùng đặc biệt. Cơ quan quản lý đã lập xong, nhưng sàn thực tế vẫn chưa có. 66 con người ấy đành bắt đầu công việc bằng cách "học việc" trên một hệ thống mô phỏng. Phía Hàn Quốc viện trợ một hệ thống với hơn 30 máy tính chuyên dụng, thiết lập nên một trung tâm giao dịch giả định. Hàng ngày, các chuyên gia nước ngoài bay sang trực tiếp giảng dạy nghiệp vụ, trong khi các cán bộ trẻ cặm cụi nhập lệnh ảo, thực hành quy trình kiểm soát cho một thị trường chưa hề có ngoài đời thực.

Phải mất gần một năm rưỡi sau ngày thành lập UBCKNN, khung pháp lý trực tiếp điều chỉnh hoạt động của thị trường mới chính thức hoàn thiện. Ngày 11/7/1998, Chính phủ ban hành Nghị định 48/1998/NĐ-CP về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Cùng ngày hôm đó, Thủ tướng ký quyết định lịch sử: Thành lập hai trung tâm giao dịch chứng khoán tại TP.HCM và Hà Nội.

Chiếc ghế Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đầy bất ngờ và hành trình “khai sinh” thị trường từ con số không - Ảnh 11.

Được viết ra khi bánh xe thực tế chưa lăn vòng nào, Nghị định 48 không tránh khỏi những hạn chế tất yếu của một văn bản đi trước thực tiễn. Nhưng chính những cọ xát thực tế từ nền móng sơ khai ấy sau này đã trở thành tiền đề quan trọng dẫn đến sự ra đời của Nghị định 144 năm 2003 và Luật Chứng khoán năm 2006.

Những viên gạch thể chế đầu tiên đã được đặt xuống. Từ một khái niệm mơ hồ trong phòng họp năm 1987, cơ quan quản lý đã sẵn sàng, sàn giao dịch đã gọi tên, khuôn khổ pháp lý đã định hình.

Thế nhưng, phía trước 66 con người mở đường ấy vẫn là rào cản lớn nhất từng khiến họ phải lùi thời điểm mở cửa năm 1992: Lấy đâu ra cổ phiếu để giao dịch? Rời khỏi phòng diễn tập với những lệnh giao dịch ảo, họ bước vào một hành trình lịch sử mới - hành trình đi gõ cửa từng doanh nghiệp, thuyết phục những cái tên đầu tiên chấp nhận minh bạch hóa tài chính để đưa cổ phiếu lên sàn.

Đón đọc phần 2: Chuyện chưa kể sau những chuyến "gõ cửa" bị từ chối năm 1999 và tấm hộ chiếu hội nhập của UBCKNN

Hạ Anh
Hải An


Hạ Anh/ TK: Hải An

Việt Nam hàng ngày

Trở lên trên