Sau 25 năm gây dựng CEO Group, Chủ tịch Đoàn Văn Bình đã viết lại hành trình của chính mình trong cuốn sử ký đặc biệt nhân dịp kỷ niệm 25 năm thành lập tập đoàn. Không còn là những con số, những dự án khổng lồ, mà là những bữa cơm độn, những đêm ngủ trên giường tầng, và trên hết là khát khao thoát nghèo, khát khao khẳng định mình… đã biến thành động lực để gây dựng nên CEO Group thành công như ngày hôm nay.
Người ta thường muốn quên đi hoặc giấu bớt cái nghèo, nhưng trong sử ký CEO Group, vì sao ông lại nhắc đến với lòng biết ơn và xem đó là động lực để vươn lên?
Tôi sinh ra trong một gia đình nông dân điển hình. Quê tôi là vùng chiêm trũng, trước khi có nhà máy thủy điện Hòa Bình, bão lũ, ngập úng, mất mùa là chuyện thường xảy ra. "Chiêm khê, mùa thối" là chuyện thường tình.
Trời yên mùa thuận, nhà có cót lúa chồng lên nhau, ngày ba lần đỏ lửa, ba lần khói bếp như vậy đã được coi là giàu. Nhưng chỉ cần mất mùa, bữa cơm lại phải độn sắn, khoai, bo bo. Cảm giác đói vẫn hằn lại trong ký ức chúng tôi.
Sáng tôi đi học, trưa và chiều giúp bố mẹ làm ruộng. Lên cấp hai, tôi gánh quang gánh đi lấy phân trâu, phân bò về làm phân bón; lúc rỗi thì bắt cá, cua, ốc để cải thiện bữa ăn.
Tôi còn đóng gạch rồi nung để xây nhà. Đóng gạch là chuỗi công việc nặng nhọc và tỉ mỉ: lấy đất, nhào đất, vào khuôn, phơi rồi nung. Phải canh trời vì một cơn mưa bất chợt có thể làm hỏng cả mẻ gạch mộc. Khi nung, thiếu lửa thì gạch sống, quá lửa thì gạch phồng, cong, mất giá trị sử dụng.
Mẹ thương tôi vất vả, thường thưởng một siêu nước lã pha chanh đường. Thuở ấy chỉ có vậy mà sao ngon đến lạ! Sau này, nhìn thấy gạch, tôi lại nhớ những ngày giúp đỡ bố mẹ. Có lẽ nhân duyên với xây dựng đến từ đây.
Tuổi thơ vất vả nhưng tôi luôn biết ơn cái nghèo. Nó là động lực mạnh mẽ, thôi thúc tôi phải tiến về phía trước.
Giữa những tháng ngày vất vả ấy, ông bắt đầu nghĩ đến một con đường khác từ bao giờ?
Nhiều đêm sáng trăng, tôi cùng bạn học tụ tập ở hiên nhà, nhìn lên bầu trời đầy sao và tự hỏi: ngoài kia có gì, làm sao để thoát nghèo?
Mẹ muốn tôi đi bộ đội, được rèn luyện và được Nhà nước chăm lo, rồi lấy vợ làm giáo viên. Công thức "chồng bộ đội, vợ giáo viên" thời ấy là lựa chọn quen thuộc: có lương, ổn định và an toàn.
Nhưng tôi nung nấu ý nghĩ phải thoát ly sớm để thoát nghèo. Bố ủng hộ tôi. Vấn đề là bằng cách nào. Hồi đó, Tiếng Nga là đỉnh nhất. Tôi chọn khoa Tiếng Nga của Trường Đại học Ngoại ngữ Thanh Xuân (Hà Nội), với mục tiêu năm thứ ba sẽ đi thực tập một năm tại Liên Xô, mở ra cơ hội đổi đời.
Chọn được đường đi là một chuyện, có đủ điều kiện để bước tiếp trên con đường ấy lại là chuyện khác. Với một gia đình nông dân khi ấy, con đường đến với giảng đường đại học gian nan thế nào?
Với vốn tiếng Nga ít ỏi, tôi thuyết phục bố mẹ cho ra Hà Nội ôn thi, ở nhờ bà con, bạn bè. Hàng tháng, tôi đạp xe hơn 50 km về quê xin tiền, xin gạo rồi quay ra học tiếp.
Tôi nhớ câu mẹ hỏi mỗi lần thấy tôi về: "Lại về à?". Tôi hiểu trong câu hỏi ấy có niềm vui khi thấy con về nhà, nhưng cũng có cả nỗi lo. Mỗi lần tôi về là thêm một lần mẹ phải tần tảo, chắt chiu, góp nhặt từng đồng để nuôi tôi ăn học.
Năm 1990, đúng năm điện lưới về làng, tôi đỗ đại học, đúng trường, đúng khoa mong ước. Để đến được cánh cửa ấy là biết bao hy sinh của bố mẹ, các em và sự giúp đỡ của bà con, bạn bè.
Đỗ đúng trường, đúng ngành mong muốn là một bước ngoặt lớn. Nhưng khi cánh cửa đại học mở ra, thực tế có giống điều ông từng hình dung về con đường thoát nghèo?
Thi đỗ đã khó, theo học còn khó hơn. Thầy cô và chuyên gia Nga nói, tôi không hiểu. Tôi nói, họ cũng không hiểu. Có lúc muốn bỏ cuộc, nhưng nghĩ đến sự hy sinh của gia đình, tôi tự nhắc: đã vào được đây thì phải học được.
Bữa cơm giá 500 đồng, thường có cơm, ít rau, miếng đậu rán mỏng trong chiếc khay ba ngăn, không đủ với chàng thanh niên tuổi đôi mươi. Tôi phải xin thêm cơm cháy ở căng tin. Dù vậy, cảm giác đói vẫn thường trực.
Sáng lên giảng đường, trưa vào thư viện, tối tôi dùng chiếc hòm tôn giống như bạn bè trong ký túc xá làm bàn học trên giường tầng với ý chí nung nấu năm thứ ba phải sang được Liên Xô.
Tưởng rằng con đường đã mở ra thì năm 1991, Liên Xô tan rã. Giấc mơ đi Liên Xô vụt tắt.
Khi hướng đi mình đặt nhiều kỳ vọng đột ngột khép lại, ông đã tìm đường đi tiếp bằng cách nào?
Khóa tôi có 4 lớp thì có một lớp song ngữ Nga–Anh, ra trường được cấp hai bằng cử nhân. Tôi nhắm đến mục tiêu ấy dù chưa từng học tiếng Anh.
Ngoài giờ tiếng Nga, tôi đọc sách, nghe băng, nghe đài, ghi từ mới tiếng Anh vào lòng bàn tay. Trước khi ngủ, tôi dùng tay viết từ vựng lên không trung, miệng tập phát âm. Năm thứ ba, tôi vào được lớp song ngữ, có học bổng, tôi cũng bắt đầu đi dạy thêm tiếng Anh, tự lo chi phí học hành và giúp gia đình.
Nhưng cũng lúc ấy, tôi nhận tin mẹ mất. Khi vừa có thể mua cân đường, hộp sữa biếu mẹ thì bà đã ra đi. Điều tôi hối tiếc nhất là chưa được phụng dưỡng mẹ ngày nào, chưa để mẹ nhìn thấy các con khôn lớn.
Tôi lao vào học, dịch tài liệu, dạy tiếng Anh, có ngày dạy đến 7 lớp. Đến năm thứ tư, tôi có xe máy, nhà riêng gần cổng trường Đại học ngoại ngữ Thanh Xuân – ngôi nhà sau này tôi sử dụng tầng 1 để làm trụ sở đầu tiên của CEO Group. Nhưng vui nhất là có thể giúp các em tôi học đại học và lo cuộc sống.
Khát vọng thoát nghèo dạy tôi biết giá trị của lao động, học tập, tự lập và lòng biết ơn. Những điều ấy tiếp tục đi cùng tôi khi tôi gây dựng CEO Group sau này.
Từ một sinh viên tự trang trải cuộc sống bằng việc dạy ngoại ngữ, cơ duyên nào đưa ông đến với những công trường xây dựng?
Cuối năm 1994, TODA Corporation của Nhật Bản tuyển người triển khai các dự án ODA tại Việt Nam. Tôi nộp hồ sơ khi chưa nhận bằng cử nhân. May mắn tôi được tiếp nhận và cho phép bổ sung bằng cấp sau.
Tôi tham gia dự án nâng cấp các trường tiểu học, Bệnh viện Việt–Pháp, Bệnh viện Bạch Mai. Ở TODA, tôi học cách quản trị của người Nhật: kỷ luật, chi tiết, đúng quy trình, tôn trọng cam kết. Họ dạy từ cách sắp xếp hồ sơ, photo tài liệu, đóng file đến khảo sát, viết dự án, lập hồ sơ dự thầu, nhập khẩu, hợp đồng, kiểm tra chất lượng, nghiệm thu, bàn giao, bảo hành.
Tôi dần hiểu rằng một dự án được vận hành bởi cả hệ thống: ý tưởng, pháp lý, tài chính, hợp đồng, cung ứng, thi công. TODA là trường học thực tiễn đầu tiên của tôi về dự án và quản trị.
Có việc làm ổn định ở một doanh nghiệp nước ngoài là ước mơ của nhiều sinh viên mới ra trường, điều gì đã thôi thúc ông bước ra khỏi vùng an toàn để khởi nghiệp?
Càng làm việc, tôi càng nhận ra mình thích tự do suy nghĩ, tự quyết định và tự chịu trách nhiệm.
Mùa thu năm 2001, khi tròn 30 tuổi, tôi quyết định khởi nghiệp: Thành lập VITECO, tiền thân của CEO Group. Văn phòng đầu tiên ở tầng một căn nhà tôi mua gần cổng trường đại học ngoại ngữ, với vài chiếc bàn, máy tính và vài nhân sự.
Ban ngày tôi vẫn làm tại TODA, tối về làm việc của VITECO. Đến năm 2006, tôi mới nghỉ hẳn. Đó là lựa chọn không dễ. Nhưng nếu không bước ra, tôi sẽ không bao giờ biết mình có thể đi được bao xa.
Ngày ấy, chúng tôi luôn ước ao: Bao giờ VITECO có 10 tỷ đồng trong tài khoản? Tôi chưa hình dung được 25 năm sau VITECO sẽ có những khu đô thị, khu nghỉ dưỡng và hàng nghìn người cùng làm việc.
Từ văn phòng nhỏ ấy, ông đã chọn hướng phát triển cho VITECO thế nào?
VITECO ra đời với khát vọng lớn, nhưng khi ấy chúng tôi còn rất trẻ, kinh nghiệm triển khai dự án chưa có, năng lực tài chính còn hạn chế, bộ máy còn mỏng. Muốn đi vào lĩnh vực phát triển bất động sản, tôi hiểu rằng không thể bắt đầu với những dự án vượt quá sức mình.
Chúng tôi tìm đối tác có kinh nghiệm. Năm 2003, VITECO cùng Vinaconex 9 phát triển khu đô thị Chi Đông, với tỷ lệ tham gia lần lượt 30% và 70%.
Với tôi, 30% ấy là tấm vé đầu tiên để bước vào phát triển đô thị bài bản. Một dự án không thể hình thành bằng ý chí đơn thuần, mà phải bắt đầu từ từng mét hạ tầng, từng bộ hồ sơ, từng cam kết với khách hàng.
Tiếp theo, chúng tôi xây dựng tòa CEO TOWER, vừa làm trụ sở, vừa cho thuê tạo dòng tiền dài hạn. Từ tìm địa điểm đến cấp phép mất khoảng 5 năm. Đúng lúc triển khai, khủng hoảng 2007–2008 xuất hiện, lãi suất ngân hàng lên trên 20% một năm. Người thân can ngăn, một số cổ đông không ủng hộ. Câu hỏi đặt ra là làm hay dừng?
Vậy ông đã quyết định thế nào?
Tôi thấy thị trường vẫn có nhu cầu lớn về văn phòng khi làn sóng thành lập doanh nghiệp ngày càng rõ nét và dòng vốn FDI đổ vào Việt Nam ngày càng nhiều. Cơ hội hiện hữu, chúng tôi tôi vẫn quyết tâm làm.
Nhưng cơ hội phải đi cùng khả năng kiểm soát rủi ro. Chúng tôi hạn chế tối đa vay ngân hàng, huy động vốn cổ đông, mua trước vật liệu và thiết bị chính để khóa chi phí.
Sau 24 tháng, dự án hoàn thành. Khi khai trương, khoảng 50% diện tích đã cho thuê; sáu tháng sau không còn chỗ trống. Thành công ấy nâng năng lực tài chính, năng lực triển khai và sự tự tin của VITECO lên một bước mới.
Sau CEO TOWER, điều gì khiến ông đi xa hơn và chọn những vùng đất mới?
Năm 2010, lần đầu tiên tôi đến Phú Quốc. Sau lễ công bố quy hoạch, tôi mượn xe máy đi khảo sát hai ngày, qua những con đường đất đỏ, bãi biển hoang sơ và nông trường dừa. Về Hà Nội, tôi tiếp tục tìm hiểu quy hoạch, sân bay, điện, đường, cảng, khả năng đón khách quốc tế. Với Phú Quốc, tôi đặc biệt tin vào tiềm năng dài hạn.
Khi đó, đất mặt biển đã cơ bản có dự án. Chúng tôi quyết định M&A Công ty Cp Đầu tư và Phát triển Phú Quốc để xây dựng Novotel Phú Quốc Resort.
Ngày 18/1/2016, Novotel Phú Quốc Resort khai trương, chúng tôi tiếp tục đầu tư các dự án thành phần, từng bước xây dựng hệ sinh thái nghỉ dưỡng, lưu trú, dịch vụ và vận hành. Phú Quốc giúp CEO Group bước sang một giai đoạn phát triển mới về sở hữu và khai thác tài sản dài hạn.
Sau Phú Quốc, những lựa chọn tiếp theo có dễ dàng hơn?
Sau Phú Quốc, tỉnh Quảng Ninh giới thiệu cho chúng tôi các địa điểm tại Minh Châu, Quan Lạn. Cảnh quan đẹp, nhưng khi khảo sát kỹ, tôi thấy điều kiện triển khai và vận hành còn nhiều khó khăn.
Trên đường khảo sát trở về, chúng tôi đi qua khu đất sau này là Sonasea Vân Đồn Harbor City. Vị trí trên đảo Cái Bầu có điều kiện kết nối thuận lợi hơn. Chúng tôi thực hiện M&A năm 2017 và bắt đầu triển khai.
Khi COVID-19 xuất hiện, chúng tôi lại điều chỉnh, tạm dừng tổ hợp khoảng 1.000 phòng dự kiến hợp tác với Accor, chuyển sang Wyndham Garden Sonasea Vân Đồn với quy mô phù hợp hơn. Dự án chính thức được khai trương tháng 4/2024.
Làm dự án ở Vân Đồn đã cho chúng tôi bài học rằng phải nhìn đồng thời cảnh quan, hạ tầng, nhân lực, dòng khách, chi phí và rủi ro vận hành khi triển khai các dự án bất động sản nghỉ dưỡng.
Ông từng nói không phải cơ hội nào cũng nên làm. Liệu có khoản đầu tư nào khiến ông thấm thía sự khác biệt giữa một tài sản đẹp và một khoản đầu tư tốt?
Khoảng năm 2001–2002, tôi đầu tư khoảng một lô đất trên đồi ở Tuần Châu, nhìn ra vịnh Hạ Long. Có lúc muốn bán nhưng tôi không bán được.
Hơn một thập kỷ sau, mảnh đất được chuyên nhượng với giá hơn chục tỷ đồng. So với vốn ban đầu có thể thấy lãi, nhưng tính thời gian nắm giữ, chi phí cơ hội và giá trị hiện tại của dòng tiền, tôi coi đó là khoản đầu tư thất bại.
Cùng giai đoạn ấy, tôi dùng số tiền tương tự đầu tư vào VITECO thì có CEO Group ngày nay.
Đi tìm "mỏ vàng" không có nghĩa là thấy cơ hội nào cũng làm. Có lĩnh vực hấp dẫn nhưng không phù hợp năng lực, có lĩnh vực đúng nhưng thời điểm chưa đúng, có thứ nghiên cứu nhiều năm rồi vẫn phải dừng.
Tuổi trẻ thường muốn chứng minh mình đúng. Càng về sau, tôi càng thấy quan trọng hơn là biết lúc nào mình chưa đúng để sửa. Tôi vẫn thích làm việc với những người dám tranh luận, miễn là có cơ sở và cùng hướng đến kết quả tốt hơn.
Trong hơn hai thập kỷ gây dựng CEO Group, giai đoạn khó khăn nào để lại trong ông nhiều ký ức nhất?
Trước dịch COVID-19, chúng tôi có khoảng 1.500 phòng quy đổi tại Phú Quốc. Khi du lịch gián đoạn, khách gần như không còn, trong khi chi phí vận hành, bảo trì, khấu hao và nghĩa vụ tài chính vẫn tiếp tục.
Doanh nghiệp còn các cam kết với khách hàng. Có đơn vị thành viên bán căn hộ du lịch rồi thuê lại khai thác; khi nguồn thu bị ảnh hưởng, nghĩa vụ chi trả tạo sức ép lớn. Chúng tôi phải cân đối nguồn lực để thực hiện trách nhiệm đã nhận.
Với người lao động, chúng tôi hỗ trợ có từ gạo, nước mắm, mì, sữa. Những lúc ấy, tinh thần "Một CEO – Một Gia đình – Một Đội ngũ" được thể hiện qua cách mọi người cùng vượt khó.
Đi qua những thời điểm tưởng chừng phải dừng lại giữa đường nhưng ông vẫn say mê xây những công trình mới. Điều gì nuôi dưỡng niềm say mê ấy trong ông?
Khi nghĩ về các công trình đã đi qua, tôi thường nhớ ba điều: Ánh sao đêm, Mùi công trình và Bữa sáng đầu tiên.
Ánh sao đêm là hình ảnh công trường làm ca đêm, khi ánh trăng, ánh sao hòa cùng ánh đèn trên cần cẩu, trên các tầng thi công và những người đang làm việc.
Mùi công trình là mùi của vật liệu, của nắng, gió, biển và mồ hôi người lao động. Tôi đặc biệt thích thời khắc một khu nghỉ dưỡng sắp khai trương, khi phòng được kiểm tra lần cuối, đội ngũ vào vị trí, bếp bắt đầu đỏ lửa.
Rồi đến bữa sáng đầu tiên. Tôi thường mời những người cùng phát triển dự án và đội ngũ vận hành ngồi lại. Đó là lúc chúng tôi không chỉ nếm món ăn, mà nếm cả thành quả của nhiều năm chuẩn bị.
Sau từng ấy năm mải miết với công việc, đối với ông đâu là thứ trân quý nhất?
Ngày nhỏ, hạnh phúc là được ăn no, đi học, mong bố mẹ bớt vất vả. Sau này, có thời gian tôi gần như chỉ nhìn về phía trước, dự án này chưa xong đã nghĩ đến dự án khác.
Càng đi lâu, tôi càng quý những điều tưởng rất đỗi đời thường: Một bữa cơm đủ mặt người thân; một cán bộ trẻ trưởng thành, đủ sức đảm nhận việc lớn hơn; Một người từng làm cùng vẫn vui khi gặp lại; một công trình qua hàng chục năm còn sáng đèn...
Từ suy nghĩ ấy, chúng tôi chuyển triết lý của CEO Group từ "Vì cuộc sống chất lượng hơn" thành "Vì cuộc sống hạnh phúc". Cư dân có an tâm không, người lao động có được tôn trọng không, dự án có giúp cộng đồng tốt hơn không?
Nhìn lại hành trình 25 năm gây dựng CEO Group, ông mong muốn điều gì sẽ còn được tiếp nối lâu dài?
Tôi nghĩ nhiều về việc CEO Group sẽ phát triển thế nào khi người sáng lập không còn trực tiếp điều hành. Nếu sau vài chục năm, mọi việc vẫn chờ một người quyết định thì tổ chức chưa thực sự trưởng thành.
Tôi mong thế hệ trẻ sau này làm được những điều chúng tôi chưa làm được, đi xa hơn, làm tốt hơn. Người sáng lập có thể đứng lùi lại mà tổ chức vẫn vận hành tốt, đó chính là một thành công.
Sau một hành trình dài, câu hỏi của tôi không còn chỉ là mình đã có gì, mà là mình đã để lại được gì. Nếu những người đến sau tiếp tục viết những trang mới của CEO Group, những gì thế hệ đầu tiên làm đã có ý nghĩa.
Với tôi, như thế đã là hạnh phúc!
Xin chân thành cảm ơn những chia sẻ của ông!
Việt Nam hàng ngày








