img

Tốt nghiệp Đại học Ngoại thương năm 1966, bà Phạm Chi Lan gắn bó với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho tới khi nghỉ hưu với vị trí Phó Chủ tịch. Chuyên gia kinh tế này cũng tham gia và chứng kiến hầu hết những bước ngoặt lớn về kinh tế vĩ mô của Việt Nam trong gần 40 năm Đổi mới, trong đó có 10 năm là thành viên Tổ Tư vấn / Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ (1996-2006).

Gắn bó với những chính sách quan trọng từ những ngày đầu của Đổi mới, bà Lan đã đi cùng với kinh tế tư nhân Việt Nam từ những ngày còn là con số 0 tròn trĩnh cho đến khi được thừa nhận là động lực quan trọng nhất của kinh tế Việt Nam.

Để Việt Nam vươn mình với 'Đổi mới 2.0', chuyên gia Phạm Chi Lan phân tích cách giúp có nhiều 'Thánh Gióng' với kinh tế tư nhân - Ảnh 1.

Là một chuyên gia kinh tế chứng kiến trọn vẹn hành trình lột xác của Việt Nam kể từ sau Đổi mới 1986, bà có cảm nhận như thế nào về bốn thập kỷ Đổi mới khi nhìn lại?

Thực sự là tôi rất mừng trước những thay đổi của đất nước. Nếu không có công cuộc Đổi mới năm 1986 thì tôi không biết tương lai của đất nước, dân tộc Việt Nam sẽ ra sao.

Vào thời điểm đó, Việt Nam đang là một trong những nền kinh tế nghèo nhất thế giới. Mặc dù chúng ta đều được nghe rằng "Việt Nam ta rừng vàng biển bạc, tài nguyên thiên nhiên phong phú", vậy mà lại rơi vào tình trạng nghèo khó như vậy. Đó là điều luôn khiến tôi day dứt khi nhìn lại.

Mười năm sau 1975, kinh tế càng ngày càng khó khăn. Ban đầu, tôi cũng như nhiều người từng tin rằng sau khi hòa bình và thống nhất, với nền tảng kinh tế, xã hội và giáo dục của hai miền và bao tài nguyên chưa được khai thác, Việt Nam sẽ phát triển rất nhanh. Nhưng thực tế lại đi theo chiều ngược lại.

Để Việt Nam vươn mình với 'Đổi mới 2.0', chuyên gia Phạm Chi Lan phân tích cách giúp có nhiều 'Thánh Gióng' với kinh tế tư nhân - Ảnh 2.

Sau chiến tranh, đáng lẽ đất nước có thể tận dụng sự ủng hộ của nhiều quốc gia trên thế giới để phục hồi, nhưng chúng ta lại rơi vào tình trạng bị cô lập trong một thời gian dài. Hậu quả hết sức nặng nề của 30 năm chiến tranh, những yếu tố quốc tế và cả những quyết định chính sách trong nước lúc đó khiến nền kinh tế dần rơi vào khủng hoảng.

Trong bối cảnh đó, những thay đổi ban đầu của Đổi mới thực sự rất quan trọng. Từ những "phá rào" trong thực tế như các mô hình khoán trong nông nghiệp hay những sáng kiến ở địa phương dần dần đã tạo ra động lực để cả hệ thống thay đổi.

Tuy nhiên, toàn bộ quá trình Đổi mới của Việt Nam không phải lúc nào cũng đi theo một đường thẳng. Có những giai đoạn tiến rất nhanh, cũng có những lúc chững lại, thậm chí trồi sụt. Nhưng khi nhìn lại, có thể thấy xã hội Việt Nam đã trải qua một quá trình chuyển mình rất lớn.

Khi nhìn lại những ngày đầu của Đổi mới, đâu là thay đổi mà lúc đó bà không dám nghĩ tới?

Đó là việc Việt Nam quyết định chuyển sang phát triển theo kinh tế thị trường. Sau Đổi mới, thể chế kinh tế thị trường dần dần được xác lập và chỉ khoảng sau một thập kỷ thì đã có thể thấy rõ con đường đó là không thể đảo ngược.

Để Việt Nam vươn mình với 'Đổi mới 2.0', chuyên gia Phạm Chi Lan phân tích cách giúp có nhiều 'Thánh Gióng' với kinh tế tư nhân - Ảnh 3.

Nhìn lại những thời điểm có tính bước ngoặt trong gần 40 năm Đổi mới, theo bà, đâu là nhân tố quan trọng nhất tạo nên thay đổi?

Điều tạo ra bước ngoặt, tôi nghĩ, trước hết là ở những người lãnh đạo có tư duy mới, có tâm với dân với nước, nhìn thấy việc gì cần phải làm để đưa đất nước phát triển, đẩy nền kinh tế đi lên, từ đó quyết định từ bỏ cơ chế cũ, thiết lập nền kinh tế thị trường mà chúng ta cần có.

Việc ra đời Luật Doanh nghiệp năm 1999 là một ví dụ. Năm 1995, Việt Nam gia nhập ASEAN và bình thường hóa quan hệ với Mỹ, tăng trưởng GDP đạt 9,5% -mức cao nhất trong lịch sử, đầu tư nước ngoài (FDI) cũng tăng kỷ lục lên 8,2 tỷ USD vốn đăng ký vào năm 1996.

Tuy nhiên, ngay sau đó là khủng hoảng tài chính châu Á (năm 1997-1998) khiến dòng vốn FDI bị khựng lại và sau đó tăng trưởng tụt xuống chỉ còn dưới 5%. Chính trong bối cảnh khó khăn, lãnh đạo thời đó đã có một thay đổi lớn về tư duy là phải dựa vào nội lực, tăng cường nội lực, và sau đó là sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 1999.

Luật mới được ra đời chứ không phải là sửa 2 luật trước đó vì thay đổi nguyên tắc rất quan trọng: từ chỗ "doanh nghiệp chỉ được làm những gì luật pháp cho phép", trở thành "doanh nghiệp được làm tất cả những gì luật pháp không cấm". Đây là sự đổi mới tư duy lớn, mở đường cho sự phát triển của khu vực tư nhân sau này.

Để Việt Nam vươn mình với 'Đổi mới 2.0', chuyên gia Phạm Chi Lan phân tích cách giúp có nhiều 'Thánh Gióng' với kinh tế tư nhân - Ảnh 4.

Tôi thường nhấn mạnh rằng, yếu tố quan trọng nhất của Đổi mới chính là tinh thần yêu nước và đặt lợi ích dân tộc, lợi ích đất nước lên trên hết của những người lãnh đạo.

Chúng ta thực hiện được công cuộc Đổi mới năm 1986 là nhờ thế hệ lãnh đạo khi đó có tinh thần yêu nước, thương dân rất mạnh. Họ nghĩ đến đất nước, nghĩ đến cuộc sống của người dân, những người đã che chở cho họ suốt những năm tham gia cách mạng và chiến tranh. Vì vậy họ sẵn sàng thay đổi, dám chấp nhận kinh tế thị trường khi nhận ra đó là con đường cần thiết để cải thiện đời sống người dân.

Thế hệ lãnh đạo thời đó, nói thật, gần như không có động lực cá nhân. Thông thường, khi có được vị trí cao họ sẽ đòi quyền lợi cá nhân cho họ, cho gia đình họ. Nhưng trong bối cảnh chung cực kỳ khó khăn, ưu tiên trước hết của lãnh đạo là phải cứu dân khỏi đói nghèo, thiếu thốn, từ đó mới có thể đưa nền kinh tế đất nước dần phát triển và mọi người cùng hưởng lợi.

Chính tinh thần vì nước vì dân đó đã tạo nên sự đồng thuận cho công cuộc cải cách. Khi ấy cũng có những người còn băn khoăn về cơ chế thị trường, nhưng họ được thuyết phục rằng nếu không thay đổi thì đất nước sẽ rơi vào khủng hoảng và đời sống người dân không thể cải thiện được, niềm tin của người dân cũng sẽ lung lay.

Để Việt Nam vươn mình với 'Đổi mới 2.0', chuyên gia Phạm Chi Lan phân tích cách giúp có nhiều 'Thánh Gióng' với kinh tế tư nhân - Ảnh 5.

Theo bà, đâu là những bài học lớn từ quá trình cải cách kinh tế của Việt Nam?

Trong suốt quá trình cải cách kinh tế của Việt Nam, theo tôi, một điểm rất quan trọng là mức độ tôn trọng và tạo điều kiện cho khu vực doanh nghiệp tư nhân phát triển. Có thể nói môi trường kinh doanh dành cho khu vực tư nhân chính là thước đo khá rõ cho thấy nền kinh tế thị trường của Việt Nam đã đi được đến đâu và còn cần tiếp tục cải cách như thế nào.

Sau này, nhiều chương trình cải thiện môi trường kinh doanh nhằm thúc đẩy doanh nghiệp tư nhân phát triển cũng chính là những bước cải cách quan trọng theo hướng đó.

Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam luôn luôn bị thử thách theo kiểu mỗi khi chúng ta đang trên đà lên đỉnh cao hơn thì thế giới lại xuất hiện khủng hoảng và tác động đến mình. Chẳng hạn sau khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO vào đầu năm 2007 thì khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 xảy ra.

Để Việt Nam vươn mình với 'Đổi mới 2.0', chuyên gia Phạm Chi Lan phân tích cách giúp có nhiều 'Thánh Gióng' với kinh tế tư nhân - Ảnh 6.

Trong bối cảnh đó, chúng ta lại mắc thêm một sai lầm trong chính sách, đó là dồn quá nhiều nguồn lực cho các tập đoàn kinh tế nhà nước, thay vì tạo thêm điều kiện để khu vực tư nhân phát triển mạnh hơn và vươn ra thị trường quốc tế.

Vấn đề là nhiều doanh nghiệp nhà nước khi ấy vẫn hoạt động theo cơ chế được ưu đãi và bảo hộ, thiếu cạnh tranh thực sự và sử dụng nguồn lực chưa hiệu quả. Trong một số lĩnh vực độc quyền, nguồn lực được sử dụng khá lãng phí, trong khi hiệu quả kinh doanh lại không tương xứng. Việc cho phép họ kinh doanh đa ngành khiến hiệu ứng chèn ép khu vực tư nhân thêm nặng nề.

Đó là một bài học đắt giá cho quá trình cải cách kinh tế của Việt Nam, cho thấy rằng nếu nguồn lực không được phân bổ hiệu quả và nếu còn phân biệt đối xử, khu vực tư nhân không được tạo điều kiện phát triển đúng mức, thì rất khó để nền kinh tế nâng cao sức cạnh tranh và vươn lên trong môi trường toàn cầu.

Để Việt Nam vươn mình với 'Đổi mới 2.0', chuyên gia Phạm Chi Lan phân tích cách giúp có nhiều 'Thánh Gióng' với kinh tế tư nhân - Ảnh 7.

Nền kinh tế Việt Nam đang trải qua những thay đổi rất lớn và nhanh. Nhiều chuyên gia nhìn nhận quá trình này như "Đổi mới 2.0" cho một Việt Nam vươn mình. Bà có suy nghĩ gì?

Tôi thích từ "Việt Nam vươn mình". Cách đây hơn 10 năm, trong một buổi thảo luận về kinh tế tư nhân Việt Nam, có anh đặt câu hỏi vui: "Ở mình chẳng có Thánh Gióng nhỉ?". Lúc đó, tôi bảo: "Thánh Gióng nào mà xuất hiện nổi bây giờ ở khu vực tư nhân. Thánh Gióng muốn vươn mình phải có Vua tạo cơ chế, có nồi cơm của cả làng chung vào nuôi, đúng không? Chứ một mình cha mẹ Thánh Gióng thì không có đủ cơm cho con ăn để lớn vổng lên trong thời gian ngắn như vậy được".

Nói cách khác, muốn có Thánh Gióng phải có sự chung tay, ủng hộ của đồng bào mình, của đất nước mình. Và nhất là Vua phải cho sứ giả đi khắp nơi cầu hiền, chứ nếu Vua chỉ nghĩ dựa vào các quan thôi để đánh giặc Ân thì làm sao có Thánh Gióng được.

Với tinh thần đó, "Thánh Gióng" không phải là một cá nhân, mà là những người, tổ chức có năng lực, tài năng được ủng hộ bởi thể chế, có cơ chế để phát triển. Tiếp đến, họ còn phải được cộng đồng ủng hộ thì mới có thể vươn mình…

Để Việt Nam vươn mình với 'Đổi mới 2.0', chuyên gia Phạm Chi Lan phân tích cách giúp có nhiều 'Thánh Gióng' với kinh tế tư nhân - Ảnh 8.

Tôi thấy, bây giờ là thời điểm mà chúng ta đã nhìn ra điều đó. Tổng  bí thư  Tô  Lâm khi nói về "Kỷ nguyên vươn mình" phát biểu rất rõ: "Thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn" và đến bây giờ vẫn là nút thắt quan trọng số 1. Cái hay và đem lại niềm tin ở đây là ngay khi tuyên bố về "điểm nghẽn của điểm nghẽn", một trong những cải cách đầu tiên của ông là sắp xếp lại các ban của Đảng cho hiệu quả hơn.

Ví dụ như trước đây có Ban Kinh tế Trung ương nhưng bây giờ là Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương. Kinh tế mà bị tách rời khỏi các lĩnh vực khác như khoa học công nghệ, giáo dục, xã hội, văn hóa… thì không thể nào lên được.

Rồi sáp nhập các Bộ, như Bộ Kế hoạch Đầu tư vào Bộ Tài chính chẳng hạn. Trước đây, nói thật là một trong những cái khó hàng đầu trong các quyết định xây dựng chính sách là khác nhau giữa ý kiến của 2 Bộ này. Gần như luôn có những cách tiếp cận khác nhau, cách nghĩ khác nhau giữa ông nắm kế hoạch, đưa ra những chương trình đầu tư chung của cả nước; với ông nắm tiền (ngân sách)… Một hệ quả là trước đây mỗi năm Nhà nước lo cho khoảng 300.000 dự án thì lấy đâu mà tập trung, ưu tiên được, nên dẫn dẫn tới dàn trải, lãng phí cũng phải thôi.

Sáp nhập các địa phương cũng vậy. Nhiều tỉnh quá, năng lực khác nhau mà tỉnh nào cũng muốn có đủ thứ, dân chịu sao nổi gánh nặng thuế cho nhà nước có ngân sách để đáp ứng tất cả! Gánh nặng quá thì nền kinh tế không cất cánh, đất nước không vươn mình được. Tất nhiên giai đoạn đầu hậu sáp nhập sẽ có những trục trặc, không thể tránh được. Nhưng về lâu dài, đó là những bước cải cách quan trọng để nâng cao hiệu quả quản trị kinh tế-xã hội của Nhà nước.

Để Việt Nam vươn mình với 'Đổi mới 2.0', chuyên gia Phạm Chi Lan phân tích cách giúp có nhiều 'Thánh Gióng' với kinh tế tư nhân - Ảnh 9.

Theo bà, những nhân tố nào sẽ giúp cho Đổi mới 2.0 tiếp tục được tăng tốc ổn định, bền vững thay vì chỉ bùng lên trong một giai đoạn ngắn?

Trước hết vẫn phải tiếp tục xử lý vấn đề thể chế. Đã là điểm nghẽn của điểm nghẽn thì phải gỡ, và phải gỡ một cách căn bản.

Hiện nay Quốc hội đang tăng tốc làm luật rất nhiều, nhưng nói thật tôi cũng có phần lo ngại. Luật pháp cần những phẩm chất rất quan trọng như tính khả thi, ổn định, nhất quán, đồng bộ, minh bạch, trách nhiệm giải trình và khả năng tiên liệu được. 

Vấn đề thứ hai trong thể chế là quy trình xây dựng chính sách phải có tham vấn. Nhiều văn bản quan trọng nên tham vấn nghiêm túc, đầy đủ các đối tượng liên quan, chẳng hạn doanh nghiệp hay các hiệp hội ngành hàng, nhóm dân cư bị tác động. Quốc hội là đại diện cho người dân thì càng phải lắng nghe ý kiến của xã hội trước khi ban hành luật.

Nhưng thể chế không chỉ là ban hành các quy định luật, mà còn là khâu thực thi. Đây mới là vấn đề rất lớn. Nhiều khi văn bản rất hay, nhưng khi triển khai thì bộ máy bên dưới lại không đủ năng lực hoặc không hiểu rõ cách thực hiện. Khoảng cách giữa chính sách và thực tế vì thế lắm lúc rất xa. Chúng tôi vẫn hay nói đùa rằng khoảng cách lớn nhất ở Việt Nam không phải từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau, mà là từ "miệng nói" đến "bàn tay thực hiện".

Để Việt Nam vươn mình với 'Đổi mới 2.0', chuyên gia Phạm Chi Lan phân tích cách giúp có nhiều 'Thánh Gióng' với kinh tế tư nhân - Ảnh 10.

Ngoài thể chế, vấn đề thứ hai là phân bổ-sử dụng nguồn lực và ưu tiên phát triển. Trong bối cảnh thế giới bất ổn, kinh tế toàn cầu biến động rất mạnh, thị trường, giá cả đều khó đoán định thì cần cân nhắc kỹ các quyết sách của ta, sao cho nền kinh tế đủ lực mà chủ động "dĩ bất biến ứng vạn biến" để đứng vững trong mọi tình huống.

Theo tôi, trước mắt nên tập trung ưu tiên phát triển mạnh một số ngành công nông nghiệp, dịch vụ then chốt nhằm tăng khả năng tự lực của nền kinh tế. Về hạ tầng thì ưu tiên giải quyết các điểm nghẽn ở những trung tâm kinh tế lớn như TP.HCM, Hà Nội, Đà Nẵng. Quy luật phát triển của các quốc gia thường là tập trung nguồn lực vào những khu vực động lực trước, rồi từ đó lan tỏa ra các vùng khác.

Đối với doanh nghiệp cũng vậy. Mỗi doanh nghiệp nên tập trung vào lĩnh vực mình mạnh nhất, làm cho thật tốt, tránh dàn trải khiến nguồn lực bị phân tán, khó có hiệu quả.

Để Việt Nam vươn mình với 'Đổi mới 2.0', chuyên gia Phạm Chi Lan phân tích cách giúp có nhiều 'Thánh Gióng' với kinh tế tư nhân - Ảnh 11.

Nhìn vào những thay đổi đang diễn ra, bà đánh giá thế nào về "Đổi mới 2.0" đối với triển vọng của một Việt Nam vươn mình?

Tôi tin vào triển vọng đó. Tình thế hiện nay có phần giống với thời điểm năm 1986: không thể không đổi mới. Hồi đó, Việt Nam rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội nặng nề, bị dồn vào chân tường và buộc phải thoát ra bằng công cuộc Đổi mới. Còn bây giờ chúng ta cũng đang bị dồn vào chân tường, nhưng ở một góc độ khác.

Nếu Việt Nam muốn bảo đảm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và tự chủ, tự lực tự cường, tiếp tục theo hướng phát triển bền vững, tăng trưởng bao trùm, thì phải có một cuộc đổi mới lần thứ hai. Những cải cách trước đây không còn đủ nữa, cả so với yêu cầu của chính mình và so với một thế giới đang thay đổi quá nhanh.

Những điều Tổng  Bí thư  Tô  Lâm và Đại hội XIV nêu ra về tinh thần vươn mình là đúng. Khi đã nhìn ra đúng vấn đề thì việc tổ chức thực hiện hiệu quả hơn chắc chắn có thể làm được.

Điều thứ hai khiến tôi lạc quan là thế hệ trẻ của Việt Nam hiện nay. Đây là lực lượng có tiềm năng vô cùng lớn. Rất nhiều bạn trẻ ở trong nước và ở các nước ngoài rất giỏi. Nhiều người khởi nghiệp với những ý tưởng rất tốt. Có người đăng ký công ty ở Singapore hoặc Mỹ nhưng vẫn tổ chức hoạt động tại Việt Nam. Có người lập nghiệp ngay trong nước, đồng thời vươn ra thị trường quốc tế. Nhiều người làm rất thành công nhưng khá kín tiếng. Việt Nam có không ít "tỷ phú ngầm" theo cách đó, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao.

So với thời kỳ đầu Đổi mới, khi đa số người làm kinh doanh chỉ lo mưu sinh bằng mọi cách, thì cách nghĩ của thế hệ trẻ bây giờ đã khác. Họ quan tâm nhiều hơn đến tính sáng tạo, chất lượng sản phẩm, hiệu quả dài hạn và bản sắc riêng của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu. Họ cũng hiểu phải học tập suốt đời, hiểu phải liên kết, hợp tác, hiểu phải lo trách nhiệm xã hội, bảo vệ môi trường... và biết cách thực hiện. Chính những yếu tố đó khiến tôi tin rằng nếu có một môi trường thể chế tốt, thì tiềm năng phát triển của Việt Nam trong giai đoạn tới là rất lớn.

Quỳnh Anh - Hoàng Ly
Hương Xuân
Việt Hùng

PV

Nhịp sống thị trường

Trở lên trên