“Kiến quốc không phải câu chuyện của riêng những doanh nghiệp lớn, mà là sứ mệnh của mọi doanh nghiệp, tùy theo quy mô và năng lực đóng góp”TS. Nguyễn Đức KiênNguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội
Bước vào giai đoạn mới, khi mục tiêu không chỉ là tăng trưởng mà còn là
nâng tầm vị thế quốc gia,
nội hàm của hai chữ
“kiến quốc”
được mở rộng, đặt ra những yêu cầu và sứ mệnh mới đối với cộng đồng doanh nghiệp.
Trong cuộc trao đổi với chúng tôi, TS. Nguyễn Đức Kiên đã chia sẻ góc nhìn về sứ mệnh kiến quốc của doanh nghiệp; sự phân vai giữa các khu vực trong mô hình phát triển mới; cơ chế cần thiết để hình thành các doanh nghiệp mang sứ mệnh quốc gia.
Trong bối cảnh hiện tại, theo ông, “doanh nghiệp kiến quốc” cần được định nghĩa như thế nào? Nội hàm của khái niệm “kiến quốc” đã có điểm gì khác so với giai đoạn trước đó?
Khái niệm "kiến quốc" vừa kế thừa những giá trị cốt lõi, vừa được bổ sung nội hàm theo từng giai đoạn phát triển. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra khái niệm này vào những năm 1945 - 1946, đất nước vừa giành được độc lập, sứ mệnh "kiến quốc" trước hết là giải quyết những vấn đề về "cơm ăn, áo mặc" cho nhân dân, từng bước sản xuất để thay thế hàng nhập khẩu…
Sau hơn 80 năm, khái niệm này cần được mở rộng để phù hợp với bối cảnh phát triển mới. Cụ thể, “kiến quốc” trong giai đoạn hiện nay gắn với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và chiến lược phát triển bền vững. Đồng thời, động lực phát triển cũng có sự chuyển dịch rõ rệt. Nếu như vào những năm 1960, động lực phát triển được đặt trên nền tảng ba cuộc cách mạng (cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật và cách mạng tư tưởng và văn hoá - PV) thì ngày nay, trọng tâm đã chuyển sang cuộc cách mạng số.
Cùng với sự thay đổi của thời đại, mục tiêu đặt ra cho cộng đồng doanh nghiệp đã cao hơn trước rất nhiều, khi họ phải thực hiện lời căn dặn của Bác: “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Nói cách khác, doanh nghiệp Việt không chỉ hội nhập, mà còn phải góp phần khẳng định vị thế và dấu ấn của đất nước Việt Nam trên trường quốc tế.
"Cùng với sự thay đổi của thời đại, doanh nghiệp Việt không chỉ hội nhập, mà còn phải góp phần khẳng định vị thế và dấu ấn của đất nước Việt Nam trên trường quốc tế."
TS. Nguyễn Đức Kiên
Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội
Trong bức tranh đó, ông nhìn nhận như thế nào về sự phân vai giữa ba khu vực: Doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân?
Đến thời điểm hiện nay, sau khi có Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và hệ thống các Nghị quyết do Bộ Chính trị ban hành, chúng ta đã định vị tương đối rõ vai trò của từng khu vực doanh nghiệp trong mô hình phát triển mới.
Trước hết, khối doanh nghiệp nhà nước phải là trụ cột của nền kinh tế. Cương lĩnh năm 2011 của Đảng đã xác định xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Định hướng xã hội chủ nghĩa là mục tiêu lâu dài và phải đạt được, vì vậy doanh nghiệp nhà nước phải là bộ phận then chốt thực hiện. Đồng thời, khi xây dựng nền kinh tế thị trường hiện đại, chúng ta tôn trọng quy luật phát triển khách quan của các thành phần kinh tế, bảo đảm sự hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và toàn thể xã hội.
Trong khi đó, doanh nghiệp FDI đóng vai trò hỗ trợ về công nghệ, thị trường. Nhưng cần lưu ý, về lâu dài, công nghệ cần được chuyển giao, doanh nghiệp Việt Nam phải từng bước làm chủ thị trường. Nhìn vào mô hình phân bổ giá trị "đường cong nụ cười" (smile curve), Việt Nam đang từng bước dịch chuyển lên các khâu có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Điển hình, với lĩnh vực dệt may, chúng ta đã chuyển từ gia công thuần túy cho doanh nghiệp FDI với biên lợi nhuận thấp đến việc mua thiết kế, phát triển mẫu mã riêng, tự sản xuất và chủ động xuất khẩu sang thị trường lớn như Mỹ. Đây chính là minh chứng cho việc tận dụng khả năng mở đường, cung ứng công nghệ của khối FDI để doanh nghiệp Việt tự vươn lên.
Trong cấu trúc chuyển dịch này, doanh nghiệp nhà nước có vai trò cực kỳ quan trọng. Với quy mô và tiềm lực của mình, nhiều doanh nghiệp đủ khả năng tiếp cận công nghệ và trở thành đối tác tương xứng để các tập đoàn FDI yên tâm chuyển giao. Doanh nghiệp nhà nước phải là đối tác đầu tiên tiếp nhận, hấp thụ công nghệ, thị trường và sau đó chuyển giao lại cho các thành phần kinh tế khác.
Ở lĩnh vực hàng không, sau khi Vietnam Airlines đóng vai trò tiên phong, thị trường từng bước được mở rộng để các hãng hàng không tư nhân như Vietjet hay Bamboo Airways tham gia và phát triển. Lĩnh vực ngân hàng cũng tương tự, sau các ngân hàng quốc doanh, ngày càng có nhiều ngân hàng tư nhân lớn đã khẳng định được vị thế trên thị trường.
Thực tế cho thấy, vài năm trở lại đây, khu vực kinh tế tư nhân cũng đã xuất hiện những tập đoàn đủ năng lực cạnh tranh và hợp tác với các đối tác quốc tế như Vingroup, Hòa Phát, Masan hay Sovico. Điều này cho thấy rằng, chúng ta đang từng bước tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân phát triển.
Dữ liệu vĩ mô 1995–2025
“Ba chân kiềng” của Kinh tế Việt Nam
Sau 30 năm, kinh tế Việt Nam đang dần định hình thế "kiềng ba chân" vững chắc. Trong đó, khu vực Nhà nước tập trung kiến tạo và điều tiết kinh tế vĩ mô; khối ngoài Nhà nước là động lực tăng trưởng quan trọng; khối FDI kết nối, giúp Việt Nam hội nhập toàn cầu.
Nguồn dữ liệu: Niên giám Thống kê ↓
Chú thích: Trước năm 2010, thuế sản phẩm được tính gộp với giá trị của từng khu vực kinh tế. Từ năm 2010, khoản này mới được tách thành một hạng mục độc lập để phù hợp chuẩn quốc tế.
Sự thu hẹp của khối kinh tế Nhà nước
Sau 30 năm, tỷ trọng đóng góp vào GDP của khối kinh tế Nhà nước đã giảm một nửa, xuống còn 21,15% (ước tính năm 2025). Đây là kết quả từ quá trình cổ phần hóa và định vị lại vai trò điều tiết vĩ mô.
Di chuột hoặc chạm vào đồ thị để xem số liệu chi tiết từng năm.
“Bệ lò xo giảm chấn”
Kinh tế ngoài Nhà nước, trong đó có khu vực tư nhân, vươn lên mạnh mẽ và duy trì tỷ trọng ổn định trên 50% GDP trong suốt ba thập kỷ.
“Hệ thống doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ chính là ‘bệ lò xo giảm chấn’ để nền kinh tế không bị sốc nặng và duy trì được sự ổn định.”
Sức bật từ khu vực kinh tế ngoài Nhà nước
Không còn bó hẹp ở quy mô kinh tế hộ gia đình, khu vực này đã chứng kiến sự trỗi dậy của các tập đoàn tư nhân lớn như Vingroup, Hòa Phát, Sun Group…
‘Cánh tay nối dài’ đưa Việt Nam hội nhập toàn cầu
Với làn sóng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, khu vực FDI từ việc chỉ chiếm 6,3% GDP năm 1995 đã lên mức hơn 20% giai đoạn 2020 - 2025. Dòng vốn ngoại góp phần giúp Việt Nam trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Hiện nay, Việt Nam đang thực hiện những dự án có quy mô và độ phức tạp chưa từng có. Ông nhìn nhận như thế nào về sự phân vai và năng lực gánh vác của cả hai khối doanh nghiệp nhà nước và tư nhân trong các công trình mang tính chiến lược này?
Càng nhìn vào những dự án chiến lược có quy mô lớn gần đây, chúng ta có thể thấy rõ vai trò của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên, để cả hai khu vực có thể phát huy đúng năng lực, điều quan trọng nằm ở cơ chế.
Muốn thực hiện tinh thần của Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết 79 về phát triển kinh tế nhà nước, chúng ta phải áp dụng cơ chế đặc thù về chỉ định thầu. Cần thẳng thắn nhìn nhận rằng, nếu phát triển theo hướng “trăm hoa đua nở”, sẽ khó có thể làm được các công trình lớn.
Chẳng hạn, cùng là sản xuất thép để tạo ra ray đường sắt tốc độ cao, nếu giao Tổng Công ty Thép Việt Nam (VNSTEEL), quy trình phê duyệt vốn sẽ phức tạp và tốn nhiều thời gian. Trong khi đó, những doanh nghiệp như Hòa Phát hay Formosa có thể triển khai ngay vì họ có thể chủ động về nguồn vốn. Điều Nhà nước cần làm là tạo ra thị trường để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư. Với các dự án quy mô lớn khác, chúng ta hoàn toàn có thể giao Vingroup, Thaco… đảm nhận.
Đối với doanh nghiệp nhà nước, chúng ta phải chọn những ngành then chốt. Hiện nay, đây vẫn là khu vực sở hữu đội ngũ nhân lực tốt nhất, có khả năng tài chính nhất (với điều kiện nhà nước phải có cách quản trị nguồn vốn tại doanh nghiệp nhà nước linh hoạt hơn). Chẳng hạn, với dự án đường sắt tốc độ cao, phần thi công nền đường, thi công cầu, hầm có thể giao cho doanh nghiệp tư nhân. Nhưng riêng phần thông tin tín hiệu bắt buộc phải là Viettel, VNPT, GTEL của Bộ Công an. Lúc này, chúng ta phải hỗ trợ xây dựng nền công nghiệp bán dẫn, hỗ trợ các nhà máy sản xuất chip để phục vụ trực tiếp cho các thiết bị tự động hóa giao thông, tự động hóa đường sắt.
Tóm lại, muốn hình thành những doanh nghiệp kiến quốc, doanh nghiệp dân tộc, cần áp dụng cơ chế chỉ định thầu. Ví dụ trong mười chỉ định, chúng ta đảm bảo sáu đúng, bốn sai, tổng hợp lại Đất nước vẫn có những doanh nghiệp có thương hiệu trên thế giới.
Sứ mệnh Kiến quốc
Vai trò của khối DNNN và DNTN ngày càng rõ nét khi cùng cộng hưởng năng lực để gánh vác những siêu dự án có quy mô chưa từng có
Chọn một doanh nghiệp hoặc dự án để xem thông tin
1 / 2
Viettel
Nhà máy chế tạo chip bán dẫn
Nhà máy chế tạo chip bán dẫn đầu tiên tại Việt Nam được xây dựng tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc. Đảm nhận phần cốt lõi về thông tin tín hiệu, tự chủ công nghệ viễn thông và IoT quốc gia.
Khởi công:
16/01/2026
Tổng mức đầu tư:
Có ý kiến cho rằng, nếu tập trung nguồn lực và giao những dự án chiến lược cho một số doanh nghiệp lớn, rất dễ hình thành sự phụ thuộc vào một vài doanh nghiệp. Ông nhìn nhận như thế nào về lo ngại này?
Chúng ta cần có một cách nhìn linh hoạt hơn. Không có doanh nghiệp nào có thể giữ vị thế dẫn đầu mãi mãi. Nếu nhìn vào Hàn Quốc, trước đây động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ các tập đoàn công nghiệp nặng, đóng tàu hay ô tô như Hyundai. Sang giai đoạn sau, Samsung trở thành biểu tượng của ngành điện tử dân dụng. Còn hiện nay, những doanh nghiệp sản xuất chip như SK lại đang vươn lên mạnh mẽ cùng với làn sóng phát triển của ngành bán dẫn.
Điều tương tự cũng diễn ra ở nhiều quốc gia khác. Đã có thời Sony, Hitachi hay Panasonic gần như thống lĩnh thị trường điện tử tiêu dùng toàn cầu, nhưng đến nay vị thế đó đã thay đổi. Kodak cũng từng là một biểu tượng của ngành nhiếp ảnh, nhưng khi công nghệ số phát triển, doanh nghiệp này dần mất cạnh tranh ở thị trường. Điều đó cho thấy, không có doanh nghiệp nào có thể tồn tại mãi trong hào quang. Mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế sẽ cần những doanh nghiệp khác nhau đóng vai trò động lực.
Tôi cho rằng hiện nay chúng ta đang có phần quá khắt khe với khu vực doanh nghiệp nhà nước. Lấy ví dụ như Petrovietnam. Đây là doanh nghiệp có nhiều kinh nghiệm triển khai các dự án ngoài khơi và hiểu rất rõ điều kiện thực tế của nước ta. Nếu có đủ năng lực để triển khai điện gió ngoài khơi thì cần mạnh dạn giao việc, thay vì kêu gọi nhà đầu tư nước ngoài hay để doanh nghiệp phải trải qua những quy trình kéo dài hoặc chịu những cơ chế xét duyệt bất cập.
Góc nhìn chuyên gia
“Muốn hình thành những doanh nghiệp kiến quốc, doanh nghiệp dân tộc, cần áp dụng cơ chế đặc thù về chỉ định thầu. Ví dụ trong mười chỉ định, chúng ta đảm bảo sáu đúng, bốn sai, tổng hợp lại đất nước vẫn có những doanh nghiệp có thương hiệu trên thế giới.”
Nhắc đến hai chữ "kiến quốc", nhiều người thường nghĩ ngay đến những tập đoàn lớn. Phải chăng chúng ta đang vô tình bỏ qua vai trò của các doanh nghiệp vừa và nhỏ?
Khi nói về khái niệm "doanh nghiệp kiến quốc", nhiều người thường nghĩ đến những doanh nghiệp có khả năng tạo ra các bước đột phá cho nền kinh tế. Nhưng xét cho cùng, doanh nghiệp nào cũng kiến quốc cả. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tùy theo sức của mình". Trong công cuộc xây dựng đất nước, doanh nghiệp quy mô nhỏ đóng góp theo năng lực của quy mô nhỏ, doanh nghiệp lớn đóng góp theo năng lực của doanh nghiệp lớn.
Hãy nhìn lại những giai đoạn biến động lớn trên thế giới như khủng hoảng đầu tư công, khủng hoảng nợ dưới chuẩn tại Mỹ hay đại dịch COVID-19, hệ thống doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ chính là “bệ lò xo giảm chấn” để nền kinh tế không bị sốc nặng và duy trì được sự ổn định.
Những bạn trẻ ngồi nhà viết phần mềm kết nối với shipper đã thúc đẩy thương mại điện tử phát triển thần tốc, đó là đóng góp vô cùng lớn của khối doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhưng nếu bảo họ gánh vác sứ mệnh đưa sản phẩm nông sản, hàng may mặc của Việt Nam bứt phá ra chuỗi cung ứng toàn cầu thì không thể làm được. Do đó, mỗi doanh nghiệp đều có một định vị và vai trò riêng biệt.
Nền kinh tế quốc gia vận hành như chiếc đồng hồ. Mặt số, lớp vỏ mạ vàng hay nạm kim cương chính là những doanh nghiệp lớn, nằm ở mặt tiền mà mắt thường dễ nhìn thấy. Nhưng để cỗ máy chạy chính xác, phụ thuộc vào hệ thống bánh răng ẩn sâu bên trong, chính là khối doanh nghiệp nhỏ và vừa, cùng hệ thống dây cót thể chế. Sự chuyển động nhịp nhàng của kim giờ, kim phút biểu hiện cho tính đồng bộ vĩ mô; chỉ cần một mắt xích lệch trục, toàn bộ hệ thống sẽ sai số.
Tương tự như thời kháng chiến, không chỉ những chiến sĩ trực tiếp cầm súng chống giặc, mà ngay cả việc các em nhỏ tự đan mũ rơm chống bom bi cũng là sự tham gia vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
“Kiến quốc” bây giờ cũng vậy, cần phải có sự tham gia của tất cả các giai tầng và mọi doanh nghiệp thì đất nước mới phát triển được.
“Kiến quốc” bây giờ cũng vậy, cần phải có sự tham gia của tất cả các giai tầng và mọi doanh nghiệp thì đất nước mới phát triển được.