TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Quốc hội chiều 19/11:

Thủ tướng trả lời chất vấn đại biểu Quốc hội về các vấn đề kinh tế, xã hội

19-11-2014 - 15:37 PM | Thời sự

Thủ tướng trả lời chất vấn đại biểu Quốc hội về các vấn đề kinh tế, xã hội

Tại kỳ họp này có 149 phiếu chất vấn các thành viên Chính phủ trong đó có 17 phiếu chất vấn Thủ tướng Chính phủ.

Sau thời gian chất vấn 4 Bộ trưởng, nửa buổi chiều hôm nay 19/11, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng có phần trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội.

Theo báo cáo do Thủ tướng trình bày trước Quốc hội, tại kỳ họp này có 149 phiếu chất vấn các thành viên Chính phủ trong đó có 17 phiếu chất vấn Thủ tướng Chính phủ. Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng báo cáo một số vấn đề mà đại biểu, cử tri, đồng bào cả nước quan tâm.

(1) Về tình hình KT – XH tháng 10-11/2014 và triển khai kế hoạch năm 2015.

Trong tháng 10 và tháng 11 tình hình KT- XH tiếp tục chuyển biến tích cực, kinh tế vĩ mô tốt hơn, lạm phát được kiểm soát.

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 11 giảm 0,2%; 11 tháng tăng 2,16%, cả nước dự báo tăng dưới 3%. Tăng trưởng tín dụng 11 tháng khoảng 10%, cả năm tăng trên 12%; mặt bằng lãi suất giảm khoảng 1,5% - 2% so với cuối năm 2013. Tỷ giá và thị trường ngoại hối ổn định.

Xuất khẩu 11 tháng đạt khoảng 130 tỷ USD, tăng 13,7%; nhập khẩu tăng 12,6%; xuất siêu 2 tỷ USD. Vốn FDI thực hiện đạt khoảng 11,2 tỷ USD, tăng 6,16%; vốn ODA giải ngân đạt 4,96 tỷ USD, tăng 5%; thu NSNN ước đạt dự toán tăng 13,9%; chi NS đạt 92,5% dự toán, tăng 10% so với cùng kỳ.

Sản xuất công nghiệp tiếp tục phục hồi, chỉ số sản xuất công nghiệp 11 tháng tăng khoảng 7% trong đó công nghiệp chế biến chế tạo tăng 8,5%; chỉ số hàng tồn hàng trở lại bình thường.

Sản xuất nông lâm thủy ổn định, sản lượng thủy sản 11 tháng đạt 5,74 triệu tấn, tăng 4,8%.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,2%; thị trường bất động sản phục hồi; khách du lịch quốc tế tăng.

Trên 67.200 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với vốn đăng ký bình quân đạt 5,8 tỷ đồng, tăng 14% so với cùng kỳ; có trên 23.700 nghìn doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 7,8%.

An sinh xã hội tiếp tục bảo đảm, cải cách hành chính.... tiếp tục chuyển biến tích cực.

Tuy còn không ít khó khăn, nhưng với kết quả đạt được nêu trên có cơ sở để chúng ta đạt được mục tiêu nhiệm vụ năm 2014 mà Chính phủ đã báo cáo Quốc hội.

Chính phủ sẽ tập trung chỉ đạo nỗ lực đạt được mục tiêu đã đề ra. Trong đó phấn đấu tăng trưởng GDP đạt trên 5,8%; chủ động cân đối cung cầu, không để biến động thị trường giá cả.

Chính phủ sẽ khẩn trương triển khai KT-XH và dự toán NS 2015. Tập trung quản lý điều hành đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, cải thiện môi trường đầu tư, tạo điều kiện sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lược tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, sức cạnh tranh của nền kinh tế; cải thiện đời sống nhân dân; phòng chống thiên tai. Phòng chống tham nhũng lãng phí; trật tự án toàn xã hội.

(2) Về quản lý nợ công, điều chỉnh cơ cấu NSNN: Nợ công là vấn đề hệ trọng của Quốc gia. Vấn đề này các đại biểu đã nêu ý kiến và gửi chất vấn. Thủ tướng Chính phủ xin trân trọng báo cáo với đại biểu và đồng bào cả nước về tình hình sử nợ công đến nay và định hướng kế hoạch đến năm 2020:

Do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính suy thoái kinh tế toàn cầu cũng những yếu kém nội tại kinh tế nước ta tăng trưởng chậm lại, từ bình quân giai đoạn 2006 – 2010 tăng 7%/năm xuống còn khoảng 5,8%/năm giai đoạn 2011 – 2015. Nghị quyết của Đảng và Quốc hội đề ra chủ trương giảm thu để nuôi dưỡng nguồn thu, hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn, tăng chi cho đảm bảo xã hội.

Tỷ lệ thu NSNN trên GDP giảm tương ứng từ 24,8% giảm còn 21%. Trong khi đó nhu cầu chi tăng mạnh để bảo đảm an sinh xã hội, chi lương tăng lương theo lộ trình, tăng cường quốc phòng, ...chi trả nợ đến hạn.

Tỷ trọng chi thường xuyên trong tổng chi NSNN tăng từ 55% lên 64,8% trong đó chi cho con người (trong chi thường xuyên) tăng từ 62,2% lên 68,2%; chi cho an sinh xã hội tăng khoảng 18%/năm cao hơn tốc độ tăng khoảng 10%/năm của thu NS và 12%của chi NS.

Từ năm 2011 đến nay đã 3 lần điều chỉnh tăng lương, 2 lần tăng phụ cấp công vụ. Tại kỳ họp này Chính phủ đã trình xin Quốc hội phê duyệt tăng lương cho một số đối tượng với 6,3 triệu người được hưởng từ ngày 1/1/2015.

Chi cho đầu tư phát triển giảm mạnh, từ 25% tổng chi NSNN giai đoạn 2006 - 2010 xuống còn 18% giai đoạn 2011 – 2015.

Trước thực trạng này để thực hiện mục tiêu nhiệm vụ phát triển KT- HX đã đề ra trên cơ sở đảm bảo an toàn tài chính quốc gia và ổn định kinh tế vĩ mô, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương chủ chỉ đạo tăng vay trả nợ, tăng vay nợ cả trong và ngoài nước, chuyển sang vay nợ trong nước cho đầu tư phát triển, xây dựng kết cấu hạ tầng.

Quốc hội đã ban hành Luật quản lý nợ công quy định Nợ công bao gồm: nợ chính phủ, nợ chính phủ bảo lãnh, và nợ chính quyền địa phương. Quốc hội đã có nghị quyết số 10 năm 2011 quy định trần nợ công đến năm 2015 không quá 65% GDP; Chính phủ đã ban hành Chiến lược quản lý nợ công đến 2020, tầm nhìn đến năm 2030 quy định trần nợ công đến 2020 không quá 65%GDP; nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của CP không kể khoản vay về cho vay lại không quá 25% tổng thu NS.

Giai đoạn 2011 – 2015 kế hoạch phát hành TPCP là 335.000 tỷ đồng gấp 2,5 lần giai đoạn 2006 – 2010.

Nước ta đã trở thành nước thu nhập trung bình nên tỷ trọng vay ưu đãi, vay ODA giảm dần với kỳ hạn dài trong nợ công giảm dần. Cùng với chủ trương thực hiện chuyển dần sang vay trong nước tỷ trọng vay trong nước tăng từ 40,3% tổng số nợ vay năm 2010 lên 54,5% năm 2014.

Nợ nước ngoài chủ yếu là vay ưu đãi thời hạn vay trên 20 năm, lãi suất khoảng 1,6%/năm; nợ trong nước chủ yếu là phát hành TPCP kỳ hạn ngắn lãi suất cao do chỉ số CPI năm 2011 – 2012 tăng mạnh dẫn đến áp lực và nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của CHính phủ tăng nhanh trong ngắn hạn.

Trong bối cảnh đó chúng ta đã có kế hoạch và trả nợ đầy đủ đúng hạn đảm bảo an toàn tài chính quốc gia; tỷ lệ trả nợ trực tiếp của Chính phủ năm 2014 là 14,2% tổng thu NSNN (không quá 25%). Ngoài ra trong điều kiện kinh tế vĩ mô ổn định hơn chúng ta còn sử dụng một phần vay mới với kỳ hạn dài hơn lãi suất thấp hơn để đảo nợ góp phần làm giảm áp lực trả nợ. Việc đảo nợ không làm tăng số nợ công.

Năm 2012 phát hành TPCP 144.000 tỷ đồng , kỳ hạn 2,97 năm lãi suất 9,8%/năm; Năm 2013 phát hành TPCP gần 182.000 tỷ đồng trong đó dành 40.000 tỷ đồng đảo nợ kỳ hạn bình quân 3,21 năm lãi suất 7,79%/năm; Năm 2014 phát hành TPCP trên 330.000 tỷ trong dành 77.000 tỷ đồng đảo nợ, kỳ hạn 4,85 năm, lãi suất bình quân 6,62%/nam

Ngày 7/11/2014 chúng ta đã phát hành trái phiếu quốc tế 1 tỷ USD kỳ hạn 10 năm với lãu suất 4,8%/năm để đảo nợ các khoản TPCP đã phát hành trước đây 2005 – 2010 với lãi suất 6,8%/năm làm giảm đánh kể chi phí lãi vay, xác lập chuẩn lãi suất mới có lợi hơn.

Giải pháp tới đây của Chính phủ trong quản lý nợ công gồm:

(i) Quản lý chặt chẽ nợ công, nhất là khoản vay mới đảm bảo đúng quy định và trong giới hạn cho phép. Phấn đấu đến năm 2020 nợ công giảm xuống còn 62% (quy định ko quá 65%); Nợ Chính phủ giảm còn 46,6%GDP ; tỷ lệ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với tổng thu NSNN 20%. Đồng thời kiểm soát chặt chẽ các khoản nợ khác như: nợ đầu tư xây dựng cơ bản, nợ nguồn chưa sử dụng của KBNN, nợ quỹ hoàn thuế, nợ cấp bù lãi suất, nợ của DNNN.... Đảm bảo an toàn tài chính quốc gia, ổn định kinh tế vĩ mô.

(ii) Nợ công chỉ sử dụng cho đầu tư phát triển, xây dựng các công trình hạ tầng thiết yếu theo quy hoạch. Rà soát phê duyệt chặt chẽ danh mục vốn vay của Chính phủ, vốn vay được Chính phủ bảo lãnh, và vốn vay của chính quyền địa phương. Tăng cường kiểm tra giám sát sử dụng vốn vay, đảm bảo hiệu quả đầu tư, chất lượng công trình. Chủ động ngăn ngừa tham nhũng lãng phí.

(iii) Khẩn trương cơ cấu lại nợ công, giảm áp lực trả nợ trong ngắn hạn và chi phí vay vốn. Các khoản vay mới kể cả vay đảo nợ chủ yếu phải có kỳ hạn từ 5 năm trở lên. Tăng tính thanh khoản của thị trường TPCP; Kiểm soát chặt việc trả nợ đối với các khoản vay Chính phủ bảo lãnh, thu đủ nợ đối với các khoản CP vay về cho vay lại; Bố trí nguồn trả nợ của Chính phủ trong giới hạn cho phép ( không quá 25% tổng thu NSNN) và sử dụng quỹ tích lũy trả nợ để bảo đảm trả nợ đúng hạn.

(iv) Nợ nước ngoài quốc gia: Đến cuối năm 2014 khoảng 39,9% GDP, đến năm 2020 khoảng 46% GDP (quy định không quá 55%); tỷ lệ trả nợ nước ngoài so với tổng thu từ xuất khẩu hàng hóa năm 2014 là 25,9% trog đó có 11,32% do các NHTM vay ngoại tệ ngắn hạn lãi suất tháp đáp ứng ngay cho nhu cầu nhập khẩu hàng hóa. Chỉnh sẽ chỉ đạo NHNN tăng cường quản lý việc vay ngắn của các TCTD để từ năm 2015 đảm bảo tỷ lệ nghĩa vụ này dưới 25% tổng giá tị xuất khẩu hàng hóa dịch vụ hàng năm.

(v) Tập trung tăng tỷ trọng thu nội địa, triệt để tiết kiệm, giảm tỷ trọng chi thường xuyên; tăng tỷ trọng chi đầu tư; bố trí nguồn trả nợ. Phấn đấu đến năm 2020, tỷ trọng thu nội địa chiếm 80% tổng thu NSNN; tỷ trọng chi đầu tư khoảng 25 – 30%; chi thường xuyên 50 -55%; chi trả nợ khoảng 20% trong tổng chi; Bội chi khoảng 4%GDP.

(vi) Rà soát hoàn thiện thể chế, sửa đổi bổ sung Luật NSNN; Thực hiện chiến lược quản lý nợ công; Chương trình quản lý nợ công trung hạn;...

Tóm lại nợ công của nước ta đến năm 2014 là 60,3%GDP theo kế hoạch năm 2016 sẽ tăng lên cao nhất 64,9%GDP, các năm sau đó sẽ giảm dần đến 2020 giảm còn 60,2%, vẫn nằm trong giới hạn. Chính phủ sẽ tăng cường quản lý xây dựng kết cấu hạ tầng, trả nợ đầy đủ đúng hạn, chủ động từng bước điều chỉnh cơ cấu thu chi NSNN lành mạnh, ổn định kinh tế vĩ mô.

(3) Về xử lý nợ xấu gắn với cơ cấu lại các TCTD

Sau khủng hoảng tài chính Châu Á 1997-1998, nhu cầu vốn lớn, tín dụng ngân hàng – nguồn vốn chủ yếu cho phát triển kinh doanh tăng nhanh, dư nợ tín dụng tăng bình quân trên 30%/năm trong giai đoạn 2001-2010.

Tỷ lệ dư nợ tín dụng/GDP tăng từ 40% năm 2000 lên 125% năm 2010. Quản lý nhà nước chưa chặt chẽ, năng lực quản trị của một số tổ chức còn nhiều yếu kém; nhiều trường hợp vi phạm pháp luật.

Cùng với tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, thị trường tài chính, thị trường bất động sản bị ảnh hưởng nghiêm trọng, sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn, nhiều DN thua lỗ, không trả được nợ dẫn đến nợ xấu gia tăng.

Theo giám sát của Ngân hàng nhà nước, đến tháng 9/2012 tỷ lệ nợ xấu của các TCTD lên đến 17%. Nợ xấu làm cho nhiều DN không vay được vốn, sản xuất kinh doanh khó khăn, đình trệ ảnh hưởng đến việc làm, đời sống và tăng trưởng kinh tế.

Bên cạnh đó, nợ xấu còn làm cho tình hình tài chính của các TCTD không lành mạnh, thanh khoản khó khăn; một số ngân hành thương mại đứng trước nguy cơ đổ vỡ; đe dọa an toàn hệ thống và ổn định kinh tế vĩ mô.

Trước thực trạng đó, Chính phủ đã phê duyệt các đề án cơ cấu lại TCTD và xử lý nợ xấu. Mục tiêu của xử lý nợ xấu là cải thiện thanh khoản tình hình tài chính, nâng cao hiệu quả hoạt động của các TCTD, đáp ứng yêu cầu vốn cho phát triển kinh tế xã hội và bảo đảm an toàn hệ thống; phấn đấu đến cuối năm 2015 đưa nợ xấu về mức an toàn trong kinh tế thị trường.

Triển khai thực hiện đề án, Ngân hàng nhà nước cùng các bộ ngành liên quan và địa phương đã tăng cường giám sát, thanh tra, kiểm tra chấp hành các quy định về an toàn hoạt động, tình hình tài chính, nợ xấu và kết quả xử lý nợ xấu của các TCTD; đồng thời hoàn thiện các quy định về phân loại nợ, cơ cấu lại nợ, thiết lập và sử dụng dự phòng rủi ro, bảo đảm chặt chẽ minh bạch và phù hợp hơn với thông lệ quốc tế.

Theo Thủ tướng, nhờ sự nỗ lực chung, đến tháng 10/2014 đã xử lý được 54,3% tổng số nợ xấu được xác định tại thời điểm tháng 9/2012 chủ yếu bằng các giải pháp: thu hồ nợ, cơ cấu lại nợ, sử dụng dự phòng rủi ro, bán nợ và tải sản bảo đảm …

Theo báo cáo của các TCTD, tỷ lệ nợ xấu đến cuối tháng 9 là 3,8% và có xu hướng giảm; tháng 6 là 4,17%; tháng 7 là 4,11%; tháng 8 là 3,9%; ước cuối năm 2014 còn khoảng 2,5-2,7%.

Theo đánh giá của NHNN, tỷ lệ nợ xấu đến cuối tháng 9/2014 khoảng 5,4% và ước đến cuối năm 2014 còn 3,7-4,2% so với mức 17% vào tháng 9/2012. NHNN đánh giá nợ xấu cao hơn là do việc đánh giá phân loại chặt chẽ hơn.

Thủ tướng cũng cho biết, kết quả xử lý nợ xấu chưa được như mong muốn do khuôn khổ pháp luật, chức năng của VAMC còn hạn chế. Bên cạnh đó, do một số TCTD còn yếu kém, tình trạng sở hữu chưa minh bạch, nên nhiệm vụ còn rất khó khăn.

Về giải pháp xử lý nợ xấu trong thời gian tới, Thủ tướng đưa ra các nhóm giải pháp sau:

(i) Hoàn thiện khung khổ pháp lý tạo thuận lợi cho xử lý nợ xấu, nhất là việc mua bán nợ.

(ii) Hoàn thiên chức năng, tăng cường tiềm lực tài chính nâng cao vai trò của công ty VAMC.

(iii) Phát triển lành mạnh thị trường mua bán nợ, khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

(iv) Tăng cường kiểm tra giám sát thanh tra nợ xấu, chất lượng tín dụng, phân loại nợ và dự phòng rủi ro, nâng cao hiệu lực hiệu quả trong kiểm soát nợ xấu.

(v) Tăng cường phối hợp NHNN và các Bộ ngành, địa phương; đặc biệt là các TCTD và VAMC.

(vi) Đẩy mạnh cơ cấu TCTD, công khai minh bạch sở hữu, kiểm soát chất lượng tín dụng; lập dự phòng rủi ro. Hoàn thiện thể chế, cơ cấu các TCTD yếu kém. Đồng thời đảm bảo môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, phát triển lành mạnh thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, cơ cấu các TCTD, phấn đấu năm 2015 đưa nợ xấu xuống dưới 3% đảm bảo an toàn TCTD.

4) Về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh

Thủ tướng cho biết, trong thời gian qua, môi trường kinh doanh của VN còn nhiều hạn chế đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc thu hút đầu tư.

Theo xếp hạng của World Bank về môi trường đầu tư, năm 2014 VN xếp thứ 72 về môi trường kinh doanh hiệu quả. Trong đó, các tiêu chí đánh giá về môi trường kinh doanh của VN còn thấp như: khởi đầu môi trường kinh doanh xếp thứ 125; bảo vệ nhà đầu tư thiểu số xếp thứ 117; kết nối điện xếp thứ 135; giải quyết tình trạng phá sản xếp thứ 104; nộp thuế xếp thứ 173 …

Để cải thiện môi trường kinh doanh, trong thời gian qua Chính phủ đã ban hành một số nghị quyết cải cách thủ tục hành chính; đặc biệt là cải cách hành chính trong các lĩnh vực thuế, hải quan, thành lập, giải thể DN ... và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng.

Trong năm 2014, đưa số DN thực hiện kê khai thuế điện tử từ 65% lên 95%; thời gian nộp thuế giảm, thời gian thông quan giảm, thời gian nộp BHXH giảm khoảng 100 giờ; thời gian thành lập DN giảm từ 34 ngày xuống còn 17 ngày.

Đồng thời, theo xếp loại của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), năng lực cạnh tranh toàn cầu của VN năm 2014 đã tăng 2 bậc từ 70 lên 68 . Trong thời gian qua, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế đều nâng mức xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam, Moody's nâng xếp hạng tín nhiệm của VN từ B2 lên B1; Fitch nâng xếp hạng tín nhiệm của VN từ B+ lên BB.

Tuy nhiên, Thủ tướng thừa nhận, so với các nước trong khu vực thì xếp hạng môi trường đầu tư của VN còn thấp. Mặc dù thời gian qua đã có nhiều cố gắng nhưng trong cơ chế chính sách vẫn còn nhiều bất cập, một số bộ ngành chưa quan tâm đúng mức, chưa coi việc cải thiện môi trường kinh doanh là nhiệm vụ thiết yếu.

Theo Thủ tướng, để cải thiện môi trường đầu tư, trong thời gian tới Chính phủ sẽ tập trung vào các nhóm giải pháp chính sau:

(i) Đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; tăng nhanh các sản phẩm nông nghiệp có giá trị gia tăng cao; nâng cao năng suất lao động; hình thành chuỗi giá trị sản xuất – chế biến – tiêu thụ sản phẩm.

(ii) Hiện đại hóa công nghệ, giảm chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm.Huy động các nguồn lực vào phát triển công nghệ hiện đại.

(iii) Phát triển mạnh và toàn diện nguồn nhân lực, chú trọng đào tạo đại học, đẩy nhanh đào tạo nghề có chất lượng cao, khuyến khích DN đào tạo nghề cho người lao động.

(iv) Rà soát hoàn thiện cơ chế chính sách, tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình quốc gia về đổi mới công nghệ. Thực hiện hiệu quả luật sở hữu trí tuệ, khuyến khích DN đổi mới công nghệ. Thực hiện nhất quán cơ chế thị trường, đẩy nhanh tái cơ cấu để nâng cao hiệu quả hoạt động.

(v) Chủ động hội nhập quốc tế, tích cực đàm phán ký kêt các hiệp định, thúc đẩy chuyển dịch kinh tế, nâng cao năng suất lao động hiệu quả.

(vi) Thực hiện giảm nghèo nhanh, bền vững, nhất là giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số.

Sau phần báo cáo của Thủ tướng là đến phần chất vấn

Đại biểu Nguyễn Thị Kim Bé – Kiên Giang chất vấn,  năm 2009 Thủ tướng đã ban hành quyết định 429 về phê duyệt quy hoạch các vùng kinh tế trọng điểm ở Đồng bằng sông Cửu long (ĐBSCL). Hiện nay, từng vùng phát triển theo quy mô nội bộ gây khó khăn trong kết nối sản xuất tiệu thụ. Xin Thủ tướng cho biết giải pháp phát triển kinh tế vùng ĐBSCL trên cơ sở liên kết vùng, đầu tư trọng điểm, tạo bước đột phá mạnh mẽ hơn phát huy tiềm năng thế mạnh của vùng?

Đại biểu Danh Út: Hiện nay đồng bào dân tộc thiểu số (đồng bào) có hơn 300.000 hộ không hoặc thiếu đất sản xuất và đất ở. Nhưng đất đai của nông lâm trường quản lý khá nhiều có tình trạng sử dụng kém kém hiệu quả, lãng phí, chưa sử dụng. Xin đề nghị Chính phủ giảm bớt đất của nông lâm trường để giao lại chính quyền địa phương cấp cho Đồng bào đã giao khoán. Xin ý kiến của Thủ tướng về chủ trương và giải pháp?

Đại biểu Đỗ Văn Đương
: Xin hỏi Thủ tướng về kinh tế biển. Cụ thể: Trong năm gần đây chúng ta đã có bước đầu tư đáng kể gì để phát triển kinh tế biển đảo? Thời gian tới cần bớt đầu tư công trong bờ dành nguồn lực, tăng cường đầu tư cho phát triển kinh tế biển. Theo đó, nên thành lập Bộ kinh tế biển trên cơ sở tách một phần chức năng bộ TN – MT và bộ NNPTNT để có bộ chuyên tâm tham mưu. Ý kiến của Thủ tướng về vấn đề này như thế nào?

Đại biểu Thân Đức Nam:
Đề nghị Thủ tướng cần làm rõ hơn nợ xấu của NHTM. Thủ tướng có dùng NSNN hỗ trợ giải quyết nợ xấu của ngành ngân hàng không?

Đại biểu Trịnh Ngọc Phương: Những giải pháp nào là quan trọng và mang tính quyết định, nhiệm tập trung thực hiện trong năm 2015 để đảm bảo nước ta đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa – hiện đại hóa?

Đại biểu Thích Thanh Quyết – Quảng Ninh
: Từ khi Trung Quốc rút giàn khoan Hải Dương-981 ra khỏi nước ta cử tri muốn được nghe Thủ tướng phát biểu. Xin Thủ tướng cho biết quan điểm của Đảng, nước ta về vấn đề biển Đông và Trung Quốc bằng cách nói súc tích? 

Đại biểu Lê Nam – Thanh Hóa: Kế sách của Chính phủ như thế nào trước (Trung Quốc) để bảo vệ toàn vẹn chủ quyền, quyền chủ quyền thiêng liêng của đất nước?

Đại biểu Nguyễn Thị Khá: Liên quan đến chính sách thu hút nhân tài, sử dụng nhân lực qua đào tạo trong nước ngoài nước đạt thành tích xuất sắc, các nhân tố tự phát tự nổi lên.  Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ có giải pháp đột phá nào để trọng dụng và phát huy nguồn lực ấy một cách hiệu quả nhất tránh chảy máu chất xám? Hàng năm ngân sách nhà nước sử dụng không hết cho KHCH trách nhiệm thuộc về ai? Xử lý như thế nào nếu tiếp tục kết dư NSNN cho KHCN?

Đại biểu Nguyễn Thị Kim Thúy:
Chất vấn về tình trạng quá tải ở bệnh viện. Thủ tướng nhìn nhận về tình trạng quá tải của Bệnh viện, nổi khổ và sự bức xúc của người dân như thế nào? Với tư cách là người đúng đầu Chính phủ Thủ tướng có thể huy động nguồn lực để giải quyết tình trạng này hay không? Tại kỳ họp này Thủ tướng có cam kết gì trước nhân dân cả nước hay không?

Đại biểu Hồ Thị Cẩm Đào: Xin hỏi Thủ tướng về hệ thống đê biển ĐBSCL. Xin Thủ tướng cho biết bao giờ hệ thống đê biển ở ĐBSL mới được triển khai? Trách nhiệm cá nhân của Thủ tướng và Chính phủ về vấn đề này (triển khai chưa đồng bộ hệ thống đê biển ĐBSCL).


Thủ tướng trả lời chất vấn


Đối với câu hỏi của Đại biểu Danh Út, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết, nước ta còn khoảng 300.000 hộ đồng bào dân tộc thiểu số không có đất sản xuất. Đây vẫn là điều trăn trở, day dứt của Chính phủ và đã phân công Trưởng ban chỉ đạo Tây Nguyên giải quyết vấn đề này.

Để giải quyết vấn đề này, biện pháp cần thiết nhất chính là xây dựng một cơ chế chính sách đặc thù để giảm nghèo nhanh hơn với đồng bào dân tộc thiểu số; từ trên 50% xuống còn khoảng 34%. “Người dân sống gắn với rừng thì phải được giao rừng” – Người đứng đầu Chính phủ nhấn mạnh.

Tuy nhiên, về vấn đề ngân sách, Thủ tướng cho biết, Chính phủ đang tính toán và cân đối ngân sách chi cho đầu tư phát triển trên tinh thần nhìn nhận đây là một vấn đề quan trọng và cần thiết.

Trả lời Đại biểu Đỗ Văn Đương, Thủ tướng khẳng định, đối với đất nước ta, tầm quan trọng của biển thế nào thì mọi người dân đều biết. Đảng đã có Nghị quyết riêng về chiến lược biển, đã có chương trình và kế hoạch hành động, đã triển khai thực hiện và đã đạt được nhiều kết quả.

Tuy nhiên, Thủ tướng cũng thẳng thắn thừa nhận, so với yêu cầu thì chưa đạt và cần nỗ lực làm tốt hơn nữa. Trong đó, việc đầu tư phát triển và bảo vệ chủ quyền biển cần được đặt ưu tiên cao. Căn cứ vào ngân sách quốc gia và vấn đề nợ công, Chính phủ đã có kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế biển.

Về ý kiến bớt đầu tư trên bộ để đầu tư cho biển, Thủ tướng cho rằng, điều này khó phân định rạch ròi. Đôi khi đầu tư trên bộ nhưng lại dành cho biển. Do đó, việc này cần thực hiện có chiến lược, có quy hoạch với tinh thần chung là khai thác tốt nhất, đạt hiệu quả cao nhất gắn với đảm bảo quốc phòng an ninh và chủ quyền quốc gia.

Liên quan đến các lĩnh vực kinh tế biển, cần có sự phối hợp của nhiều Bộ, ngành. Ví dụ, vận tải biển thuộc quản lý của Bộ GTVT, khai thác dầu khí trên biển thuộc thẩm quyền của Bộ Công nghiệp, du lịch biển là Bộ Văn hóa Thể thao du lịch … Để đạt hiệu quả cao hơn, trong thời gian tới, Chính phủ sẽ phân công cho Bộ chủ trì và Bộ phối hợp để phân rõ trách nhiệm.

Trả lời chất vấn của Đại biểu Thân Đức Nam về tỷ lệ nợ xấu của các TCTD, Thủ tướng cho biết, chính phủ phấn đấu đến năm 2015 đưa nợ xấu trong hệ thống tín dụng về mức 3%, đây là mức thông thường trong cơ cấu của các TCTD và phù hợp với điều kiện của nước ta.

Đồng thời, Thủ tướng cũng khẳng định, Quốc hội đảm bảo sẽ thực hiện các biện pháp tích cực để quản lý nợ xấu nhanh, hiệu quả, chính xác hơn.

Về câu hỏi của Đại biểu Trịnh Ngọc Phương, Thủ tướng cho biết, để đưa nước ta sớm trở thành nước công nghiệp hiện đại, nước ta phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp chiến lược; đặc biệt phải thực hiện tốt 3 giải pháp chiến lược.

Thứ nhất là đột phá thể chế. Ở đây là thể chế kinh tế thị trường theo định hướng XHCN nhằm huy động cao nhất, sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực, kể cả nội lưc, ngoại lực để phát triển nhanh, bền vững.

Thứ hai là đột phá về yếu tố con người. Vì sao năng suất lao động của VN còn thấp? Đó là phải đào tạo nguồn nhân lực nhằm đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Con người phải được đào tạo có trình độ, chất lượng đào tạo cao. Trung ương đã có Nghị quyết về vấn đề này.

Đột phá thứ ba là xây dựng đồng bộ cơ sở kết cấu hạ tầng theo hướng hiện đại, thúc đẩy tái cơ cấu và chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

“Để đưa VN sớm trở thành nước công nghiệp hiện đại, cần thực hiện có hiệu quả đồng thời cả 3 đột phá chiến lược trên” – Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh.

Về câu hỏi của Đại biểu Thích Thanh Quyết, Thủ tướng khẳng định, chúng ta phải thực hiện đường lối đối ngoại kiên trì, nhất quán của Đảng và Nhà nước. Đó là đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình hữu nghị, hợp tác phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động tích cực hợp tác quốc tế.

Theo Thủ tướng, quan hệ giữa VN với TQ, cũng như tất cả các nước trên thế giới đó là quan hệ vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Hợp tác để phát triển và đấu tranh để bảo vệ quyền và các lợi ích hợp pháp của quốc gia.





>>> Nội dung chất vấn Bộ trưởng LĐTBXH chiều 19/11

>>> Nội dung chất vấn Bộ trưởng LĐTBXH Phạm Thị Hải Chuyền sáng 19/11



Thanh Giang - Nguyệt Quế

hangnt

Theo InfoNet

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên