TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Tỷ lệ nợ xấu nội bảng đến cuối tháng 2/2017 là 2,56%

23-05-2017 - 20:09 PM | Tài chính - ngân hàng

Tỷ lệ nợ xấu nội bảng đến cuối tháng 2/2017 là 2,56%

Nợ xấu đã được kiềm chế, đưa tỷ lệ nợ xấu nội bảng đến cuối tháng 02/2017 về mức 2,56% tổng dư nợ tín dụng.

Ngày 23/5, Ngân hàng Nhà nước tổ chức hội thảo về góc độ chính sách và pháp luật trong xử lý nợ xấu.

Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước, thời gian qua các tổ chức tín dụng đã tích cực nâng cao chất lượng tài sản, kiểm soát chất lượng tín dụng và xử lý nợ xấu, đặc biệt là nỗ lực tự xử lý nợ xấu bằng các biện pháp đôn đốc thu hồi nợ, phát mại tài sản, thu hồi nợ từ thi hành án, sử dụng dự phòng rủi ro…

Tính đến thời điểm 01/2017, toàn hệ thống các TCTD đã xử lý được 616,7 nghìn tỷ đồng nợ xấu (nợ xấu được xử lý năm 2012: 74,68 nghìn tỷ đồng; năm 2013: 87,98 nghìn tỷ đồng; năm 2014: 143,55 nghìn tỷ đồng;năm 2015: 186,89 nghìn tỷ đồng; năm 2016: 118,49 nghìn tỷ đồng và tháng 01/2017 là 5,14 nghìn tỷ đồng), trong đó nợ xấu do các TCTD tự xử lý là 349,7 nghìn tỷ đồng (chiếm 56,7% tổng số nợ xấu được xử lý), còn lại là bán nợ cho các tổ chức, cá nhân khác (chiếm 43,3%).

Theo đó, nợ xấu đã được kiềm chế, đưa tỷ lệ nợ xấu nội bảng đến cuối tháng 02/2017 về mức 2,56% tổng dư nợ tín dụng. Kết quả xử lý nợ xấu của TCTD qua VAMC, lũy kế từ năm 2013 đến 31/3/2017, tổng số tiền thu hồi nợ qua VAMC đạt 53.236 tỷ đồng.

Trong tổng số nợ xấu được xử lý, thì hình thức bán, phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ ở mức khá thấp 17,1 nghìn tỷ đồng (chiếm 2,8% tổng nợ xấu được xử lý).

Theo Ngân hàng Nhà nước, quá trình xử lý nợ xấu đến nay cho thấy còn nhiều khó khăn vướng mắc chưa được tháo gỡ, đặc biệtquy định của pháp luật đối với việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ còn nhiều bất cập làm hạn chế hiệu quả của việc xử lý nợ xấu như:

Thứ nhất, nhiều quy định của pháp luật chưa bảo vệ quyền chủ nợ hợp pháp của TCTD /VAMC, cản trở việc tạo lập và phát triển thị trường mua bán nợ xấu, như về việc mua bán khoản nợ xấu có tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất: Trong quá trình tổ chức mua nợ, VAMC xử lý nợ đã mua, khách hàng vay đồng ý bổ sung thêm tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất nhưng theo các quy định tại Điều 174, 175, 176 Luật Đất đai 2013, VAMC, tổ chức mua nợ không được nhận thế chấp quyền sử dụng đất. Tương tự, khi VAMC, TCTD bán lại khoản nợ xấu đã mua cho bên mua nợ là các cá nhân, tổ chức không phải là TCTD thì các cá nhân, tổ chức này cũng không được nhận thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai. Do vậy, VAMC, TCTD sẽ khó có thể bán những khoản nợ xấu có tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất cho cá nhân, tổ chức không phải là TCTD.

Thứ hai, các quy định của pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm còn nhiều vướng mắc, bất cập, không bảo đảm quyền xử lý tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm như về quyền thu giữ tài sản: Bộ luật dân sự 2015 đã bỏ quyền thu giữ tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác. Điều này sẽ gây khó khăn rất lớn đến quyền xử lý tài sản bảo đảm của VAMC, TCTD vì lý do sau: VAMC cũng như các TCTD không thể chủ động thu giữ nếu các chủ tài sản không đồng thuận, cố tình chống đối, thậm chí tạo ra các tranh chấp khác liên quan đến tài sản bảo đảm để khởi kiện ra tòa nhằm kéo dài thời gian xử lý tài sản bảo đảm. VAMC, TCTD sẽ phải chờ bản án của Tòa án, tạo áp lực lên cho các cơ quan xét xử. Sự kéo dài về mặt thời gian đó cũng tạo nên tâm lý chây ỳ trả nợ của bên có nghĩa vụ. Việc xử lý tài sản bảo đảm của VAMC, TCTD bị kéo dài, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả xử lý nợ xấu. Trong khi đó, quyền thu giữ tài sản bảo đảm đã được các TCTD thực hiện từ hơn 17 năm qua và đã được quy định tại Nghị định 178/1999/NĐ-CP về bảo đảm tiền vay của TCTD (Điều 31, 35), Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm (Điều 63).

Thứ ba, thời gian xử lý nợ, tài sản bảo đảm qua tòa án không hiệu quả (thời gian giải quyết khoảng 400 ngày, nhưng thực tế là khoảng 2 năm; chi phí chiếm khoảng: 29% giá trị đòi nợ; chỉ số chất lượng tố tụng tư pháp của Việt Nam chỉ đạt 6,5/18). Trong khi đó pháp luật về tố tụng dân sự chưa cho phép áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm của bên bảo đảm và quyền xử lý tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm.

Mai Ngọc

Theo Trí thức trẻ

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên