Ngày 08/06/2009, cổ phiếu CTCP Viễn thông VTC
(Mã chứng khoán: VTC) chuyển niêm yết từ SGDCK TP. Hồ Chí Minh giao dịch phiên
đầu tiên tại TTGDCK Hà Nội với khối lượng cổ phiếu đăng ký giao dịch là
4.050.085 cổ phiếu.
CTCP Viễn thông VTC (VTC), vốn điều lệ 40,5 tỷ
đồng, là một trong những doanh nghiệp hàng đầu hoạt động trong lĩnh vực cung cấp
dịch vụ kỹ thuật mạng lưới viễn thông, Công ty cũng là một trong những đơn vị đầu
tiên trong cả nước sản xuất thẻ SIM GSM, thẻ từ, thẻ IC, thẻ cào các loại để
cung cấp cho các dịch vụ trả tiền trước cũng như các dịch vụ khác. VTC chiếm thị
phần lớn nhất (45%) trong lĩnh vực dịch vụ bảo dưỡng tổng đài. Trong lĩnh vực sản
xuất thẻ cào cho dịch vụ trả tiền trước, VTC chiếm 30% thị phần cung cấp cho
ngành bưu điện, 50% thị phần cung cấp ngoài ngành bưu điện.
Năm 1988, trên cơ sở đề tài Khoa học cấp Nhà
nước là “Nghiên cứu chế thử Tổng đài Kỹ thuật số”, với sự cộng tác của Công ty
VIBA Handel GmbH (CHLB Đức), Xí nghiệp Liên doanh Sản xuất Thiết bị Viễn thông
Việt Nam (Vietnam Telecommunications Company – VTC) được thành lập, là liên
doanh giữa Tổng cục Bưu điện Việt Nam – GDPT (chiếm 70% vốn) và Công ty VIBA
Handel GmbH (30%) với tổng vốn liên doanh là 500.000 USD. Sau năm 1993, Xí nghiệp
Liên doanh hết thời hạn hoạt động, toàn bộ phần góp vốn của GDPT trong liên
doanh được sáp nhập vào Công ty Thiết bị Điện thoại (VITECO) dưới hình thức
thành lập Trung tâm Nghiên cứu Sản xuất và Bảo dưỡng Thiết bị Thông tin 1
(VTC1) tại Tp. Hồ Chí Minh. Ngày 01/07/1999, VTC1 đã được cổ phần hóa thành
CTCP Viễn thông VTC, vốn điều lệ ban đầu 15 tỷ đồng, trong đó cổ đông sáng lập
là Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam nắm giữ 45% cổ phần.
VTC hiện có các đơn vị trực thuộc: Trung tâm
Kinh doanh và Dịch vụ Kỹ thuật, Trung tâm Hạ tầng mạng, Trung tâm Sản xuất Thẻ
thông minh, chi nhánh Công ty tại Hà Nội và các công ty con/công ty liên kết:
CTCP Công nghệ mạng Việt Thành Công và CTCP Công nghệ tích hợp.
Trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ kỹ
thuật (bảo dưỡng, sửa chữa và lắp đặt thiết bị viễn thông), VTC chiếm thị phần
lớn nhất, có lợi thế so với đối thủ cạnh tranh là có một lực lượng kỹ thuật
đông đảo được đào tạo chính quy tại các trường đại học trong và ngoài nước, có
nhiều kinh nghiệm được khách hàng và VNPT đánh giá cao, có thể đáp ứng được yêu
cầu ngày càng khắt khe của thị trường. Trong lĩnh vực thương mại, ngoài việc
cung cấp các sản phẩm của Công ty, VTC còn phân phối thiết bị truy nhập thuê
bao HTC-1100E (Hitron-Đài Loan), MA5000 (Huawei-Trung Quốc). Công ty là đối tác
độc quyền phân phối thiết bị truy nhập thuê bao của Hitron tại thị trường phía
Nam từ Quảng Trị trở vào và là đại lý phân phối cho Huawei về các dòng sản phẩm
truyền dẫn quang, DSLAM (các dịch vụ XDSL). Do thị trường của lĩnh vực này rất
lớn nên thị phần của Công ty mới chỉ chiếm tỷ lệ không đáng kể. Hiện tại, hoạt
động thương mại đang bị cạnh tranh rất khốc liệt của các công ty trong ngành
như: Công ty Thiết bị Bưu điện (POSTEF), CTCP Viễn thông Tin học (CT-IN), Công
ty KASATI và một số Công ty TNHH khác. Trong lĩnh vực sản xuất thẻ cào cho dịch
vụ trả tiền trước, các đối thủ cạnh tranh của VTC là Xí nghiệp In Bưu điện chiếm
70% thị phần cung cấp cho ngành bưu điện và Công ty TNHH Thẻ thông minh MK
(công ty liên doanh với nước ngoài) chiếm 50% thị phần cung cấp ngoài ngành bưu
điện. Ngoài ra, còn có các sản phẩm có xuất xứ từ Trung Quốc, Đài Loan,
Singapore, Ấn Độ,… có giá cả rất cạnh tranh.
Một số chỉ tiêu
tài chính:
| Chỉ tiêu | Năm 2007 | Năm 2008 | Quý I Năm 2009 |
| Tổng tài sản | 111.204.497.663 | 113.249.628.198 | 102.335.871.389 |
| Vốn chủ sở
hữu | 37.225.011.157 | 54.116.496.577 | 50.742.003.527 |
| Doanh thu
thuần | 85.619.076.213 | 92.776.740.645 | 9.210.851.633 |
| Lợi nhuận sau
thuế | 5.829.926.207 | 3.769.277.857 | (3.636.214.533) |
| Lãi cơ bản
trên cổ phiếu |
1.695 | 924 | |
Hastc