MỚI NHẤT!

Đọc nhanh >>

Tại sao Vinaconex đẩy mạnh thoái vốn tại các công ty con?

| | Doanh nghiệp

Tiến độ dồn dập của thoái vốn cho thấy sự khẩn trương và ẩn sau đó là sự cấp thiết của việc thu về nguồn tiền mặt nhằm tái cấu trúc tài chính.

Trong bối cảnh thị trường chứng khoán vẫn khá ảm đạm, giá nhiều cổ phiếu vẫn ở mức thấp, Tổng Công ty Vinaconex lại đẩy mạnh quá trình thoái vốn tại rất nhiều công ty con, trong đó có khá nhiều công ty thành viên có quy mô lớn trong ngành bất động sản. Tiến độ dồn dập của thoái vốn cho ta thấy sự khẩn trương và ẩn sau đó là sự cấp thiết của việc thu về nguồn tiền mặt nhằm tái cấu trúc tài chính.

Rủi ro tài chính đã được giảm bớt nhưng khả năng thanh toán ngắn hạn đang là thách thức

Trong 6 tháng đầu năm 2012, với sự đồng thuận của cổ đông nhà nước là Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước và Tập đoàn Viettel, Vinaconex đã thực hiện đợt phát hành cổ phiếu thành công, huy động được số tiền 1.417 tỷ đồng, qua đó đưa hệ số nợ giảm từ mức 82% cuối năm 2011 xuống mức 74,6% cuối 06/2012, góp phần lành mạnh hoá tình hình tài chính.

Tuy nhiên, khó khăn về dòng tiền dường như vẫn chưa chấm dứt. Số dư tiền mặt trên báo cáo hợp nhất của cả hệ thống tại thời điểm cuối 06/2012 chỉ là 680 tỷ đồng, thấp nhất trong nhiều năm qua, đưa đến hệ số khả năng thanh toán tức thời chỉ ở mức 5%, một mức cực thấp trong cả giai đoạn 2009 – 2012, cho thấy Tổng Công ty chịu áp lực lớn của khả năng thanh toán trong ngắn hạn. Điều này đặt một áp lực lớn buộc Tổng Công ty phải thực hiện nhiều khoản thoái vốn khẩn trương để tạo nguồn tiền mặt.

Bảng: Hệ số khả năng thanh toán tức thời của Vinaconex

STT

Chỉ tiêu

Cuối 2009

Cuối 2010

Cuối 2011

06/2012

1

Số dư tiền và tương đương tiền

2.503

2.928

1.302

680

2

Nợ ngắn hạn

13.199

15.145

17.240

13.382

3

Khả năng thanh toán tức thời

(3) = (1) : (2)

19%

19%

8%

5%

Việc đáp ứng nghĩa vụ trả nợ ngắn hạn của Tổng Công ty gặp khó khăn hơn vì giờ đây tiếp cận vốn vay ngân hàng là rất khó khăn. Trước đây, Tổng Công ty nhận được sự hỗ trợ lớn của các ngân hàng thương mại nhà nước với những hạn mức tín dụng lớn. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, các ngân hàng này đang phải tập trung nguồn tiền hỗ trợ cho việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, do đó, Vinaconex sẽ gặp khó khăn trong việc tiếp cận các khoản vay mới nhằm trả nợ vay cũ. Việc tiếp cận các nguồn tài trợ mới từ các cổ đông gần như là không thể trong một vài năm tới. Sự hỗ trợ của các cổ đông nhà nước trong những đợt phát hành liên tục từ 2008 – 2012 đã là rất lớn và Vinaconex sẽ khó có thể huy động thêm vốn cổ phần nếu không chứng tỏ được sự cải thiện về hiệu quả kinh doanh. Chính vì những khó khăn về tiếp cận vốn này, áp lực đặt lên tiến độ thoái vốn là rất lớn.

Vinaconex bị đe doạ mất vị trí số hai trong ngành xây dựng

Trong chiến lược phát triển Vinaconex xác định hai ngành kinh doanh chiến lược là xây dựng và bất động sản, ngành kinh doanh bổ trợ là sản xuất vật liệu xây dựng. Trong những năm trước đây, khi nhận định thị trường bất động sản là cơ hội sinh lời tốt, Tổng Công ty đã dành nguồn lực lớn đầu tư sang ngành bất động sản. Tỷ trọng doanh thu bất động sản trong tổng doanh thu hợp nhất đã tăng từ mức 5,34% năm 2008 lên mức 16,3% năm 2010 và 24% năm 2011. Trong khi đó, doanh thu xây dựng giảm tỷ trọng từ mức 75,6% năm 2008 xuống mức 52,9% năm 2010 và 47,7% năm 2011.

Tuy nhiên, khi thị trường bất động sản suy giảm thì những dự án bất động sản dở dang lại trở thành những gánh nặng lớn. Việc Vinaconex thoái vốn ở nhiều công ty thành viên thuộc ngành bất động sản (ví dụ, Vinaconex 3, Vinaconex - Hoàng Thành, Công ty Đại Dương Thăng Long, Vinaconex – VCN), cho thấy một sự định vị lại chiến lược - tập trung cho ngành xây dựng, khi thị trường bất động sản không còn là một cơ hội sinh lời dễ dàng nữa.

Một điều quan trọng khiến Vinaconex tiến hành thoái vốn, giảm tỷ trọng vốn đầu tư cho bất động sản có lẽ vì vị thế thứ hai trong ngành kinh doanh cốt lõi là ngành xây dựng (sau Tập đoàn Sông Đà) đang bị đối thủ cạnh tranh đe doạ. Do đầu tư một nguồn lực lớn cho sản xuất xi măng và bất động sản, trong khi hiệu quả kinh doanh không cao, Vinaconex đã không đầu tư đúng mức cho ngành xây dựng và bị các đối thủ cạnh tranh bắt kịp và có nguy cơ bị vượt qua.

Bảng: Doanh thu xây dựng hợp nhất của các công ty xây dựng lớn

Đơn vị tính: tỷ đồng

STT

Tên Tổng Công ty

Doanh thu thuần

Riêng doanh thu xây dựng

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2010

Năm 2011

1

Tổng CTCP Vinaconex

15.062

14.456

7.151

6.929

2

Tổng CTCP Xây lắp Dầu khí

7.296

9.255

6.417

7.320

3

CTCP Xây dựng Cotec

3.304

4.510

3.304

4.471

4

CTCP Xây dựng và Địa ốc Hoà Bình

1.768

3.056

1.715

2.893

5

Tổng CTCP Xây dựng Công nghiệp Vinaincon

3.434

3.532

NA

NA

6

Tổng CTCP Xây dựng điện VNECO

307

534

188

432

7

Tổng CTCP Xây dựng và Thương mại Constrexim

1.091

971

738

440

8

Tổng CTCP Xây dựng Thủy lợi 4

1.707

1.018

1.676

986

9

Tổng CTCP Xây dựng Sông Hồng

2.579

3.291

NA

NA

Như bảng số liệu đã chỉ ra, nếu chỉ xét về doanh thu xây dựng thì năm 2011, doanh thu xây dựng của Vinaconex đã sụt giảm 3,1% và chỉ đạt 6.929 tỷ đồng. Tổng Công ty Xây lắp Dầu khí đã chính thức vượt qua Vinaconex về doanh thu xây dựng khi đạt doanh số xây dựng 7.320 tỷ đồng năm 2011. Theo sát Vinaconex là Công ty cổ phần Xây dựng Cotec với doanh số xây dựng năm 2011 là 4.471 tỷ đồng. Điều này cho thấy Vinaconex cần tập trung đầu tư nguồn lực cho ngành xây dựng, ngành kinh doanh cốt lõi của mình sau một thời gian xao lãng lĩnh vực này.

Tuấn Dương

thanhhuong

Trí Thức Trẻ

Trở lên trên