Quỹ tín dụng nhân dân phải báo cáo khoản cho vay thuộc diện hạn chế
Tại điểm a khoản 3 (được sửa đổi, bổ sung theo khoản 8 Điều 1 Thông tư số 13/2024/TT-NHNN) quy định, quỹ tín dụng nhân dân phải "báo cáo Ngân hàng Nhà nước chi nhánh theo quy định của Ngân hàng Nhà nước" đối với các khoản cho vay thuộc đối tượng hạn chế cấp tín dụng theo quy định tại Điều 135 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024.
- 22-08-2026Giá vàng miếng, vàng nhẫn trơn sáng 22/8 tại SJC, DOJI, PNJ, Bảo Tín Minh Châu tăng mạnh
- 22-08-2026"Kết nối trái tim" và hành trình 14 năm SACOMBANK trao giọt hồng sẻ chia sự sống
- 22-08-2026ĐHĐCĐ ABBank thông qua phương án tăng vốn điều lệ lên gần 27.000 tỷ đồng
Tuy nhiên, tại khoản 3 Điều 135 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 lại quy định:
"3. Việc cấp tín dụng đối với đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này phải được Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên của tổ chức tín dụng thông qua, trừ việc cấp tín dụng đối với đối tượng quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này thực hiện theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. Việc cấp tín dụng phải được công khai trong tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài".
Đối chiếu hai quy định nêu trên, ông Phạm Ngọc Thuận nhận thấy việc Ngân hàng Nhà nước yêu cầu quỹ tín dụng nhân dân phải báo cáo Ngân hàng Nhà nước chi nhánh đối với các khoản cho vay thuộc đối tượng hạn chế cấp tín dụng tại Điều 135 Luật Các tổ chức tín dụng là chưa thực sự phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 135 của Luật này.
Từ thực tế đó, ông Thuận đề nghị cơ quan chức năng xem xét và giải đáp rõ thắc mắc trên.
Về vấn đề này, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có ý kiến như sau:
Tại khoản 2 Điều 12 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 quy định:
"Điều 12. Cung cấp thông tin
2. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có trách nhiệm báo cáo Ngân hàng Nhà nước thông tin liên quan đến hoạt động kinh doanh và được Ngân hàng Nhà nước cung cấp thông tin của khách hàng có quan hệ tín dụng với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước".
Tại khoản 2 Điều 152 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 quy định:
"Điều 152. Báo cáo
2. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải báo cáo hoạt động nghiệp vụ định kỳ theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước".
Khoản 1, 2 Điều 58 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 14/2022/QH15 quy định:
"Điều 58. Nội dung giám sát ngân hàng
1. Thu thập, tổng hợp và xử lý tài liệu, thông tin, dữ liệu theo yêu cầu giám sát ngân hàng.
2. Xem xét, theo dõi tình hình chấp hành các quy định về an toàn hoạt động ngân hàng và các quy định khác của pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra và khuyến nghị, cảnh báo về giám sát ngân hàng".
Điểm h khoản 1 Điều 7 Thông tư số 08/2022/TT-NHNN về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 43/2025/TT-NHNN quy định:
"Điều 7. Thu thập tài liệu, thông tin, dữ liệu
1. Các nguồn tài liệu, thông tin, dữ liệu phục vụ giám sát ngân hàng bao gồm:
… h) Báo cáo theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước, các cơ quan có thẩm quyền khác;".
Căn cứ các quy định nêu trên, việc Thông tư số 32/2015/TT-NHNN (đã được sửa đổi, bổ sung) yêu cầu quỹ tín dụng nhân dân báo cáo Ngân hàng Nhà nước chi nhánh đối với các khoản cho vay đối tượng hạn chế cấp tín dụng là phù hợp với thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước và trách nhiệm báo cáo của quỹ tín dụng nhân dân theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 và pháp luật có liên quan.
Báo Chính phủ
CÙNG CHUYÊN MỤC