Chưa đến lúc hi vọng vào sự hồi phục của kinh tế thế giới
Điều tệ hại nhất đối với kinh tế thế giới sẽ là quan điểm cho rằng thời kỳ tệ hại nhất đã qua.
- 22-04-2009IMF: Thua lỗ vì khủng hoảng tín dụng sẽ lên tới 4,1 nghìn tỷ USD
- 19-04-2009Đông Á trong “bão” khủng hoảng tài chính
- 16-04-2009Cơ quan xếp hạng tín dụng cũng góp phần gây ra khủng hoảng tài chính
Dù có giảm điểm vào đầu tuần, 2/3 trong số 42 thị trường chứng khoán theo khảo sát của Economist tăng điểm hơn 20% trong 6 tuần qua. Chỉ báo kinh tế từ nhiều nơi trên thế giới đã có dấu hiệu lạc quan hơn. Kinh tế Trung Quốc đang đón dấu hiệu tích cực. Tốc độ suy giảm của ngành sản xuất thế giới đang chậm lại.
Thị trường nhà đất Mỹ và Anh đang có dấu hiệu hồi phục, tỷ lệ thế chấp giảm và giá nhà trở nên phù hợp hơn với khả năng tài chính của người dân. Lòng tin hồi phục. Chỉ số khảo sát niềm tin của nhà đầu tư tại Đức đã tăng lần đầu tiên trong gần 2 năm.
Thế giới nồng nhiệt đón nhận những thông tin này – nhất là ở thời điểm sự hoảng sợ và tuyệt vọng làm cho khủng hoảng trầm trọng hơn.
Khi hệ thống tài chính bên bờ vực sụp đổ vào tháng 9/2008, nhà đầu tư cố gắng “rũ sạch” mọi loại tài sản, kể cả loại an toàn nhất, người tiêu dùng ngừng chi tiêu và các công ty đóng cửa. Chỉ khi cỗ máy tài chính hoạt động trở lại, người tiêu dùng mới hào hứng mở ví chi tiêu hơn và các công ty chuyển từ trạng thái khan tiền mặt sang việc thu về những khoản lợi nhuận lớn.
Những tín hiệu tốt ban đầu
Tuy nhiên, sự lạc quan sẽ dẫn đến hai cái bẫy, một cái bẫy hiển hiện rõ và một cái bẫy ngầm. Cái bẫy thứ nhất là lòng tin có thể đã đặt nhầm chỗ, những tia hy vọng được hiểu nhầm là sự hồi phục đang bắt đầu trong khi trên thực tế chỉ là đà suy giảm đang chậm lại.
Cái bẫy thứ hai đối với các chính trị gia là lòng tin và tin tức tốt có thể tạo ra sự hài lòng tiềm ẩn gây ra nhiều tác hại. Người ta không có gì sai khi lạc quan, tuy nhiên khi quá tự tin rằng kinh tế thế giới đang hồi phục, quá trình hồi phục có thể gặp nhiều trở ngại và khiến các chính trị gia cảm thấy họ không cần phải đưa ra thêm kế hoạch cứu kinh tế.
Người ta có thể kỳ vọng quá nhiều vào việc cổ phiếu đang tăng giá. Thị trường chứng khoán thường hồi phục trước khi kinh tế cải thiện bởi nhà đầu tư thường cảm nhận được khả năng lợi nhuận hồi phục trước khi số liệu chính thức được công bố. Thế những cũng đã nhiều lần sự tăng điểm của thị trường chứng khoán cuối cùng chẳng mang lại điều gì.
Trong khoảng thời gian từ năm 1929 đến năm 1932, có đến 4 lần chỉ số công nghiệp Dow Jones tăng hơn 20% và sau đó lại quay trở về mức thấp trước đó. Trong thời kỳ khủng hoảng hiện nay, đã 5 lần thị trường chứng khoán bước vào xu thế tăng điểm trong một khoảng thời gian, mức tăng mỗi lần lên đến 10% để rồi sau đó lại mất điểm.
Việc hiểu sao cho đúng các số liệu kinh tế cũng không phải dễ dàng. 6 tháng qua, thế giới đón nhận nhiều thông tin xấu. Sản xuất đi xuống là kết quả của sự điều chỉnh trong dự trữ hàng tồn kho của thế giới. Hàng hóa không bán được ngày một nhiều, các công ty khó tìm được nguồn tài chính, các công ty trên toàn thế giới cắt giảm sản xuất nhanh hơn cả tốc độ suy giảm của tiêu dùng. Một khi hàng tồn kho của công ty hết, họ sẽ bắt đầu sản xuất trở lại và như vậy đáy suy giảm của sản xuất đã qua.
Và ngay khi thời điểm đó đến gần, kinh tế thế giới sẽ vẫn còn phải đương đầu với hai vấn đề khác. Vấn đề lớn nhất ở thời điểm hiện nay là khủng hoảng ngân hàng và làm sao loại bỏ được số nợ lớn tại các nền kinh tế “bong bóng” đặc biệt là Anh và Mỹ.
Nhu cầu giảm mạnh khi tín dụng thắt chặt và giá hàng hoá hạ để lộ ra việc người tiêu dùng đã vay tiền nhiều như thế nào và họ vì thế phải tiết kiệm nhiều hơn. Lịch sử cho thấy những cuộc suy thoái như vậy thường kéo dài và quá trình hồi phục sau đó chậm chạp.
Vấn đề thứ hai tồn tại ở các nước mới nổi, nơi nhiều nền kinh tế chịu ảnh hưởng mạnh từ việc dòng chảy vốn tư nhân liên biên giới sụt giảm. Năm 2007, dòng vốn này chiếm 5% GDP của các nền kinh tế mới nổi, hiện nay nhà đầu tư hết sức thận trọng và họ không còn muốn đầu tư ra nước ngoài.
Theo IMF, ngân hàng, công ty và chính phủ các nước mới nổi, chủ yếu là tại khu vực Trung và Đông Âu nợ khoảng 1,8 nghìn tỷ USD. Ngay cả nếu thị trường các nước mới nổi tránh được khủng hoảng nợ quy mô lớn, lòng tin của nhà đầu tư còn lâu mới hồi phục.
Cuộc khủng hoảng hiện nay xét trên một số phương diện đẩy thế giới vào suy thoái trầm trọng hơn cả thời kỳ Đại Khủng Hoảng những năm 1930. IMF trong dự báo về triển vọng kinh tế thế giới mới nhất cho rằng trong tế toàn cầu năm 2009 sẽ tăng trưởng -1,3%, lần tăng trưởng âm đầu tiên trong 60 năm.
Các nhà hoạch định chính sách kinh tế trên toàn cầu đã đưa ra các biện pháp mạnh tay chưa từng có trong lịch sử. Ngân hàng Trung ương các nước bơm hàng nghìn tỷ USD thanh khoản và tiến hành nhiều biện pháp khác để làm dịu căng thẳng trên thị trường tín dụng , nới lỏng chính sách tiền tệ ngay cả khi tỷ lệ lãi suất cơ bản đã về gần mức 0%.
Chính phủ các nước đã cố gắng để vực dậy các ngân hàng, cam kết dành hàng nghìn tỷ USD cho việc này. IMF đã có nguồn tiền mới, mỗi nước giàu và nhiều nước mới nổi đều đã đưa ra các kế hoạch tài chính. Thâm hụt ngân sách của của thế giới các nước giàu đứng ở mức trung bình sẽ lên tới 9% GDP, cao hơn 6 lần so với trước khi khủng hoảng.
Cuộc Đại Khủng Hoảng những năm 1930 cho thấy mọi chuyện sẽ tệ hại thế nào nếu chính phủ không mạnh tay can thiệp. Những nỗ lực được đưa ra hiện nay là chưa từng có và chưa một ai biết liệu chính sách đó có phát huy tác dụng hay không, huống hồ là những thay đổi mà nó sẽ mang lại.
Và nếu nó có mang lại ảnh hưởng, sẽ thật là sai lầm nếu nhầm lẫn những biến đổi của nền kinh tế với những bệ đỡ hỗ trợ với một sự phục hồi lâu dài. Sự phục hồi thật sự phụ thuộc vào nhu cầu của chính phủ với hỗ trợ từ nhiều nguồn vốn tư nhân. Và phương diện này không có nhiều yếu tố tích cực.
Bức tranh kinh tế vẫn nhiều màu xám
Thế giới đang kỳ vọng rất nhiều vào nước Mỹ. Sự điều chỉnh của thị trường nhà đất tại Mỹ đến sớm hơn bất kỳ nơi nào khác. Giá nhà đất lên đến đỉnh cao khoảng 3 năm trước đây và bây giờ hạ khoảng 30%. Sản xuất trong 3 tháng qua suy giảm với tốc độ tính trung bình theo năm là 20%. Chính phủ Mỹ đưa ra các biện pháp cứu kinh tế mạnh tay nhất trên thế giới.
Khi lượng hàng tồn kho hết và kế hoạch kích thích phát huy tác dụng, suy giảm kinh tế Mỹ chắc chắn sẽ chững lại. Kinh tế sẽ tăng trưởng trở lại, tuy nhiên sẽ thật khó để nhìn thấy dấu hiệu hồi phục đủ mạnh để ngăn tỷ lệ thất nghiệp liên tục tăng cao.
Nhu cầu hàng hoá toàn cầu giảm xuống, xuất khẩu sẽ đi xuống. Các ngân hàng Mỹ nhận được nguồn vốn từ chính phủ nhưng bảng cân đối kế toán của họ vẫn còn rất nhiều tài sản độc hại. Tiêu dùng của người dân và đầu tư của các công ty vẫn đi xuống bởi họ phải trả nợ và tiết kiệm tiền.
Điều này sẽ còn kéo dài. Tỷ lệ tiết kiệm tiêu dùng đã tăng nhanh lên mức 4% từ mức 0% dù vẫn còn thấp hơn mức 7% thời hậu Chiến tranh Thế giới thứ Hai. Tỷ lệ thất nghiệp và phá sản tăng cao sẽ dẫn đến một vòng xoáy suy giảm mới.
Tại Anh, xét đến quy mô của ngành tài chính, bong bóng nhà đất bùng nổ, tỷ lệ tiêu dùng cao, sự điều chỉnh của bảng cân đối kế toán nếu có xảy ra sẽ lớn hơn. Đồng bảng yếu sẽ xuất khẩu tăng cao, tuy nhiên khả tài chính công yếu, Anh không có điều kiện để chi tiêu cứu kinh tế nhiều như Mỹ.
Triển vọng tại Đức và Nhật xét trên lý thuyết có vẻ sáng sủa hơn. Sản lượng của hai nước này giảm mạnh hơn tại các nước giàu bởi thương mại và sản xuất sụp đổ, tuy nhiên hai nước này không phải đương đầu với tình trạng vay nợ như các nước Anglo-Saxon. Khi lượng hàng tồn kho được điều chỉnh, sự hồi phục sẽ nhanh chóng. Thế nhưng từ lý thuyết đến thực tế là một con đường dài, đặc biệt là tại Đức.
Sản lượng giảm, tỷ lệ thất nghiệp tại Đức tăng lên mức 2 con số, người tiêu dùng khó có thể tiêu xài thoải mái.Và chính phủ nước này cũng không mấy mặn mà với việc kích cầu.
Kế hoạch kích thích tăng trưởng kinh tế của Đức là lớn nếu so với mặt bằng chung của các nước châu Âu, thế nhưng nó không thấm vào đâu với khả năng của nước này. Tệ hại hơn, ngành ngân hàng Đức còn gặp rất nhiều khó khăn. Số liệu mới nhất từ IMF dự đoán ngân hàng châu Âu có thể thua lỗ khoảng 1,1 nghìn tỷ USD.
Nhật cho đến nay đã đưa ra biện pháp mạnh tay hơn Đức. Chính phủ nước này đưa ra một loạt kế hoạch cắt giảm thuế và chi tiêu. Nhật cũng đưa ra kế hoạch cứu kinh tế với mức chi phí tính trên tỷ trọng với GDP lớn nhất trong nhóm các nước giàu. Kinh tế Nhật sẽ chỉ khởi sắc trong ngắn hạn. Xuất khẩu giảm cần phải được bù lại bằng tiêu dùng nội địa tăng cao. Thế nhưng suốt hai thập kỷ qua, Nhật chưa bao giờ chuyển đổi được theo hướng đó.
Hiện nay, điểm sáng lớn nhất tại Trung Quốc, sự điều chỉnh về hàng tồn kho đã phóng đại ảnh hưởng của xuất khẩu suy giảm, chính phủ nước này có nhiều tiền và thừa quyết tâm vực dậy tiêu dùng nội địa.
Kế hoạch kích thích tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đang mang lại những thành quả. Tỷ lệ cho vay tăng cao, cơ sở hạ tầng có bước phát triển tốt. Trung Quốc có khả năng đạt được mức tăng trưởng 6,5% mà IMF dự báo. Ngay cả Trung Quốc cũng còn gặp rất nhiều khó khăn. ¾ sự tăng trưởng sẽ đến từ nhu cầu của chính phủ, đặc biệt là chi tiêu để phát triển cơ sở hạ tầng.
Tất cả những yếu tố trên đủ cho thấy chưa có gì đáng để lạc quan. Điều duy nhất là tốc độ suy giảm của kinh tế đã qua thời kỳ đỉnh điểm. Nhờ vào các chính sách tài chính và tiền tệ, sản lượng sẽ ổn định. Thế nhưng xét trên nhiều phương diện, những ngày còn lại sẽ hết sức u ám. Nhiều năm nữa, kinh tế các nước sẽ còn phụ thuộc vào chính phủ của họ.
Những điều trên có nghĩa gì? Tỷ lệ thất nghiệp tại phần lớn các nước giàu sẽ lên mức 2 con số và duy trì ở mức đó. Nhiều nước sống trong giảm phát, giá cả và lương tại các nước giảm hàng loạt.
Tỷ lệ nợ công tăng cao bởi tăng trưởng kinh tế kém, tiền chi tiêu cho kế hoạch kích thích tăng trưởng kinh tế cao để dọn sạch đống hỗn loạn trên thị trường tài chính. Tỷ lệ nợ công tại các nước thành viên thuộc OECD vào năm 2010 có thể lên tới 100% GDP. Một phân tích cho thấy việc kinh tế đi xuống có thể đẩy tỷ lệ nợ lên mức 140% GDP vào năm 2014.
Tỷ lệ thất nghiệp cao, nhiều năm đầu tư yếu kém và gánh nặng nợ cao sẽ tác động xấu tới tiềm năng kinh tế. Dù cho đến nay chưa có dấu hiệu cho thấy kinh tế thế giới sẽ quay về xu thế tăng trưởng, nhưng chắc chắn tốc độ tăng trưởng sau đó sẽ chậm hơn rất nhiều so với trước khủng hoảng.
Thập kỷ mới đầy khó khăn
Thập kỷ mới sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro, các nhà hoạch định chính sách kinh tế sẽ phải điều chỉnh giữa nguy cơ giảm phát và cùng lúc giải quyết lo lắng của nhà đầu tư về khả năng tỷ lệ nợ công tăng cao và nới lỏng chính sách tiền tệ mạnh tay cuối cùng sẽ dẫn đến lạm phát tăng cao. Tỷ lệ vay nợ của các chính phủ lên cao tới mức chưa từng có tính từ sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai, sự kiểm soát vốn sẽ có mục đích đảm bảo tiền tiết kiệm vẫn nằm trong nội địa.
Vậy làm sao để đương đầu với những khó khăn này? Chắc chắn là không phải cố bám lấy một vài tin tức tốt đẹp. Điều đó có thể khiến người ta chủ quan. Để ngăn chặn giảm phát, chính phủ và ngân hàng trung ương các nước sẽ còn phải tiến hành nhiều biện pháp mới mà hiện nay chưa thể dự đoán được.
Các chính phủ cũng không nên nhanh chóng thu hẹp các biện pháp kích thích tài chính. Nên nhớ Nhật đã cố gắng chấm dứt biện pháp kích thích kinh tế hồi phục vào những năm 1990 bằng việc vội vã tăng thuế.
Nhật đã trì hoãn cải cách ngành ngân hàng. Nước đang gặp khó khăn nên nhớ bài học đó và tiến hành cải cách, đặc biệt là tiến hành biện pháp mạnh tay hơn để tái cấu trúc các ngân hàng. Nước có tiềm lực tài chính nên khuyến khích chi tiêu tại nội địa.
Các nhà lãnh đạo Trung Quốc vẫn chưa tiến hành nhiều biện pháp để tăng thu nhập cho người dân và tăng chi tiêu bằng việc mở rộng chi tiêu cho y tế, buộc những công ty nhà nước trả cổ tức cao hơn.
Tuần này, Bộ trưởng Tài chính và đại diện Ngân hàng Trung ương các nước nhóm họp tại
Ngọc Diệp
Theo Economist