Trung Quốc, Mỹ, EU từng thử nghiệm và thành công, Bộ trường Nguyễn Mạnh Hùng chỉ ra công thức phát triển cho loạt sản phẩm trị giá tỷ đô 'Make in Việt Nam'
Trong bài viết mới đây được đăng tải trên Cổng TTĐT Bộ Khoa học Công nghệ, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng đã chỉ ra hướng đi căn bản cho Việt Nam: Chuyển từ tư duy “đi từ công nghệ” sang “đi từ bài toán quốc gia”, đồng thời sử dụng thị trường, tiêu chuẩn và cơ chế đặt hàng của Nhà nước làm đòn bẩy.
CNCL là các hướng công nghệ ưu tiên; Sản phẩm CNCL là đầu ra để tạo lập thị trường; Công nghệ lõi là năng lực làm chủ và tự chủ công nghệ.
Trong bài viết mới đây được đăng tải trên Cổng TTĐT Bộ Khoa học Công nghệ, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng đã chỉ ra hướng đi căn bản cho Việt Nam: Chuyển từ tư duy “đi từ công nghệ” sang “đi từ bài toán quốc gia”, đồng thời sử dụng thị trường, tiêu chuẩn và cơ chế đặt hàng của Nhà nước làm đòn bẩy.
"Cách tiếp cận mới này nhằm hình thành hệ sinh thái hoàn chỉnh từ nghiên cứu đến sản phẩm, thương mại hóa và tự chủ công nghệ lõi, tạo bước chuyển thực chất trong phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo", Bộ trưởng nhấn mạnh.
Công thức đúng của việc phát triển các CNCL
Bộ trưởng cho biết, điểm quan trọng đầu tiên là xây dựng danh mục CNCL, sản phẩm CNCL, công nghệ lõi phải xuất phát từ các bài toán lớn quốc gia, chứ không phải xuất phát từ công nghệ.
"Công thức đúng là đi từ bài toán quốc gia tới sản phẩm chiến lược rồi tới công nghệ. Chương trình CNCL quốc gia phải bao quát đầy đủ các khâu từ nghiên cứu khoa học, tới phát triển công nghệ, phát triển sản phẩm, sản xuất đến thị trường, chứ không rời rạc như trước đây", người đứng đầu Bộ KH&CN cho hay.
Đồng thời, phải kết hợp được cả hai công cụ của nhà nước là ngân sách và chính sách tạo thị trường. Thiết kế chương trình CNCL trước đây tập trung vào công nghệ và ngân sách là chính, chưa chú trọng các chính sách tạo thị trường.
Về danh mục CNCL, Chính phủ đã ban hành tháng 6/2025 và sẽ sửa đổi sau một năm ban hành. Cụ thể, danh mục sẽ bổ sung các CNCL thuộc các dòng sản phẩm đang là chủ lực của Việt Nam, cả xuất khẩu và trong nước. Làm chủ các công nghệ lõi sẽ vừa tăng năng lực cạnh tranh, vừa tạo giá trị tăng thêm cho các sản phẩm chủ lực. Danh mục CNCL có thể chia làm ba loại, ngắn hạn, trung hạn và dài hạn: 1-3 năm, 3-5 năm và 5-10 năm.
"Trong đó, 70-80% ngân sách và nguồn lực sẽ dành cho loại một và hai, như vậy sẽ vừa có kết quả nhanh, vừa xây năng lực dài hạn", Bộ trưởng cho hay.
Kèm theo danh mục CNCL là danh mục các sản phẩm CNCL, danh mục các công nghệ lõi và lộ trình làm chủ đối với từng CNCL. Các sản phẩm CNCL phải kèm theo yêu cầu về tỷ lệ nội địa hoá, các công nghệ lõi phải tự chủ.
"Các danh mục này mới là mục tiêu cụ thể cần đạt được của chương trình CNCL, chứ không phải danh mục CNCL, nó hướng khoa học công nghệ tới mục tiêu cuối cùng là công nghệ lõi, sản phẩm và thị trường. Các doanh nghiệp tập trung vào các sản phẩm CNCL, các viện trường vào công nghệ lõi", Bộ trưởng nhấn mạnh.
Thứ hai: Ban hành bộ tiêu chí, tiêu chuẩn, quy chuẩn về CNCL, công nghệ lõi và sản phẩm CNCL
Tiêu chí lựa chọn CNCL cần phải được ban hành để lựa chọn hướng đi cho đúng. Việc xây dựng và ban hành tiêu chuẩn phải đi trước (có thể là pre-standard) để định hướng phát triển công nghệ, tạo lập thị trường và thúc đẩy thương mại hoá.
Có tiêu chuẩn thì mới có thể đấu thầu, nghiệm thu và mua sắm. Tức là tiêu chuẩn giúp hình thành thị trường. Tiêu chuẩn là công cụ dẫn dắt công nghệ. Tiêu chuẩn cũng là điều kiện để sản xuất hàng loạt. CNCL thường mới, rủi ro cao, nên tiêu chuẩn sẽ giúp kiểm soát chất lượng và tạo niềm tin cho thị trường. Tiêu chuẩn cũng giúp tham gia chuỗi toàn cầu.
Nhà nước phải ban hành tiêu chuẩn, gắn tiêu chuẩn với mua sắm công và đồng bộ tiêu chuẩn với chính sách thị trường. Không có tiêu chuẩn thì không có thị trường cho CNCL.
Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Mạnh Hùng. Ảnh: Cổng TTĐT Bộ KH&CN
Thứ ba: Tìm ra một số cách triển khai CNCL mới có tính đột phá, ngoài các cách truyền thống
Nhà nước tạo thị trường đủ lớn cho các sản phẩm CNCL. Nhà nước đặt mua số lượng đủ lớn, xây dựng chính sách để tạo ra nhu cầu lớn trên thị trường, cơ chế thử nghiệm nhanh đối với CNCL, sau đó doanh nghiệp bỏ tiền nghiên cứu. Đây là cách hỗ trợ đầu ra, dùng thị trường để phát triển CNCL.
Cũng bằng cách này, nhà nước thu hút được đầu tư nghiên cứu từ khu vực xã hội, góp phần quan trọng đạt mục tiêu 2% GDP cả nước chi cho nghiên cứu, tức là gấp 5 lần con số 2% ngân sách nhà nước chi cho khoa học công nghệ.
Trung Quốc rất thành công theo cách này: Với xe điện họ trợ giá; Với phương tiện bay không người lái (UAV) họ cho phép nhiều ứng dụng trong nông nghiệp; Với năng lượng mặt trời, họ bắt buộc một tỷ lệ năng lượng tái tạo. Các sản phẩm CNCL như UAV, Camera AI, thiết bị 5G, trợ lý ảo AI, Blockchain có thể làm theo cách này.
Nhà nước chọn mặt gửi vàng, tức là chọn tổng thầu công nghệ. Đối với các chương trình công nghệ quốc gia, dự án công nghệ lớn, rất phức tạp, dài hạn, 5-10 năm hoặc lâu hơn, thì nhà nước chọn nhà thầu công nghệ chính, chọn doanh nghiệp/viện trường chủ lực phát triển CNCL, và cấp ngân sách hoặc không cấp ngân sách nhưng cam kết đầu ra.
"Chương trình tên lửa của chúng ta là thực hiện theo cách doanh nghiệp tự bỏ tiền nghiên cứu, nhà nước cam kết mua nếu đạt tính năng tương đương và giá thấp hơn so với nhập ngoại. Còn chương trình sản xuất chip bán dẫn thì lại theo cách nhà nước cấp ngân sách. Các chương trình lớn khác như lò hạt nhân module nhỏ, vũ trụ, lòng đất có thể làm theo cách này", Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cho hay.
Nhà nước là người mua đầu tiên. Cách này áp dụng với các sản phẩm CNCL chưa có thị trường lớn, công nghệ lại khá phức tạp. Cần nhà nước hỗ trợ nghiên cứu và sau đó là người mua đầu tiên. Nhà nước xác định sản phẩm hoặc bài toán CNCL, mời các doanh nghiệp/viện/trường/startup tham gia. Không chỉ định ai. Chọn 3-5 nhóm làm sản phẩm mẫu, rồi giữ lại 1-2 đội có sản phẩm mẫu tốt nhất để tài trợ làm tiếp đến sản phẩm thương mại.
Nếu công nghệ đạt yêu cầu, nhà nước thành người mua đầu tiên, tạo thành thị trường đầu tiên cho doanh nghiệp. Nhà nước đóng vai người mua đầu tiên là một trong những công cụ rất mạnh để phát triển CNCL. Các nước đã thành công với cách này là Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, EU. Cách này có thể áp dụng với vệ tinh tầm thấp, chế biến đất hiếm, robot nông nghiệp.
Phát triển CNCL cần sự đồng hành của người dùng
Sản phẩm CNCL cần có môi trường thử nghiệm, sự phản hồi liên tục của người dùng, đồng sáng tạo của người dùng. Có nghĩa là người dùng tham gia từ đầu, không phải xuất hiện ở cuối. Sự tham gia tích cực, hiệu quả và từ đầu của các đơn vị sử dụng sẽ góp phần quan trọng tạo nên thành công của các sản phẩm chiến lược. Bởi vậy, chương trình CNCL phải được thiết kế có sự tham gia của người dùng từ đầu.
Thứ tư: Ban hành kế hoạch hành động và giao nhiệm vụ
Xác định từng sản phẩm CNCL, từng công nghệ lõi sẽ phát triển theo cách nào, giao ai, bao giờ xong, cùng các điều kiện đi kèm như nhu cầu thị trường, nhà nước là người mua đầu tiên, ngân sách.
Sau khi mục tiêu, lộ trình, tiêu chuẩn, cách làm, cách đánh giá, thị trường và ngân sách đã được xác định thì việc giao bộ/ngành chủ trì phát triển các sản phẩm CNCL là nên làm. Bộ Khoa học và Công nghệ giữ vai trò điều phối quốc gia, kiến trúc, thiết kế chương trình CNCL, phân bổ ngân sách và đánh giá hiệu quả.
Thứ năm: Ban hành bộ tiêu chí đánh giá
Xác định bộ tiêu chí đánh giá tác động của CNCL đối với kinh tế - xã hội, đánh giá hiệu quả của chương trình CNCL, hay gọi là hoạch toán như lời của Tổng Bí thư Tô Lâm, là việc bắt buộc phải làm.
Tiêu chỉ phải được thiết kế theo 4 tầng; Input (đầu vào) - Output (đầu ra trực tiếp, như bài báo, công nghệ) - Outcome (kết quả, như doanh thu) - Impact (tác động, như năng suất, tăng trưởng). Chương trình CNCL phải được đánh giá theo bộ tiêu chí phản ánh đầy đủ kết quả từ nghiên cứu đến thị trường, làm cơ sở cho việc phân bổ, điều chỉnh và giám sát nguồn lực.
Nhịp sống thị trường