MỚI NHẤT!

Đọc nhanh >>

Cá nhân làm việc tại khu kinh tế dự kiến được giảm 50% thuế TNCN

Bộ Tài chính đang lấy ý kiến đóng góp vào Dự thảo Thông tư hướng dẫn việc giảm thuế thu nhập cá nhân (TNCN) của cá nhân làm việc tại KKT và khu kinh tế cửa khẩu (sau đây gọi chung là khu kinh tế).

Theo đó, người nộp thuế được giảm thuế TNCN theo hướng dẫn tại Thông tư này là cá nhân cư trú hoặc không cư trú tại Việt Nam theo quy định của Pháp luật thuế, làm việc tại các khu kinh tế.

Cụ thể: Cá nhân ký hợp đồng lao động với Ban quản lý khu kinh tế, cơ quan quản lý nhà nước tại khu kinh tế và thực tế làm việc tại khu kinh tế; Cá nhân ký hợp đồng lao động với các tổ chức, cá nhân có cơ sở kinh doanh tại khu kinh tế và thực tế trực tiếp làm việc trên địa bàn khu kinh tế; Cá nhân ký hợp đồng lao động với các tổ chức, cá nhân ngoài khu kinh tế, nhưng được cử đến làm việc tại khu kinh tế để thực hiện các hợp đồng kinh tế do tổ chức, cá nhân ký kết với Ban quản lý khu kinh tế hoặc với tổ chức, cá nhân có hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh trong khu kinh tế; Cá nhân, nhóm cá nhân có địa điểm kinh doanh cố định tại khu kinh tế, thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh tại khu kinh tế có thu nhập chịu thuế từ kinh doanh theo quy định của Luật thuế TNCN; Cá nhân ký hợp đồng lao động với tổ chức tại khu kinh tế và thực tế trực tiếp làm việc tại khu xử lý chất thải độc hại của khu kinh tế mà theo quy định của Nhà nước về môi trường và quy hoạch khu kinh tế được phê duyệt thì Khu xử lý chất thải độc hại này bắt buộc phải đặt ngoài khu kinh tế.

Thu nhập làm căn cứ tính số thuế TNCN được giảm theo hướng dẫn tại Thông tư này gồm: Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công mà cá nhân nhận được do trực tiếp làm việc tại khu kinh tế được cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức, cá nhân có cơ sở kinh doanh tại khu kinh tế trả; Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công của cá nhân được cử đến làm việc tại khu kinh tế nhận được do tổ chức, cá nhân ngoài khu kinh tế trả để thực hiện các hợp đồng kinh tế ký kết với Ban quản lý khu kinh tế hoặc tổ chức, cá nhân có hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh trong khu kinh tế; Thu nhập chịu thuế từ hoạt động sản xuất kinh doanh tại khu kinh tế của cá nhân, nhóm cá nhân được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh tại khu kinh tế; Thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công của cá nhân nhận được do làm việc tại khu xử lý chất thải độc hại của khu kinh tế đặt ngoài khu kinh tế.

Trường hợp Bộ Tài chính có quy định khác về phương pháp xác định thu nhập chịu thuế TNCN thì thực hiện theo quy định đó.

Đối với cá nhân cư trú tại Việt Nam, trường hợp cá nhân cư trú chỉ có thu nhập chịu thuế theo hướng dẫn trên (sau đây gọi chung là thu nhập chịu thuế tại khu kinh tế) thì số thuế thu nhập được giảm được tính bằng 50% tổng số thuế TNCN phải nộp.

Trường hợp cá nhân cư trú vừa có thu nhập chịu thuế theo hướng dẫn trên, vừa có thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ kinh doanh ở nơi khác thì số thuế TNCN được giảm được tính như sau:

Đối với cá nhân không cư trú, số thuế TNCN phải nộp được như sau:

>>>

Theo V.M

cucpth

Thời báo Ngân hàng

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên