Cảnh báo vi phạm pháp luật thông qua tài khoản ngân hàng đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân
Bộ Công an cảnh báo vi phạm pháp luật thông qua tài khoản ngân hàng đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân.
Các hành vi sử dụng tài khoản ngân hàng để phạm tội ngày càng tinh vi, phức tạp
Theo Cổng TTĐT Bộ Công an, trong những năm gần đây, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có những bước tiến nhanh trong lộ trình hiện đại hoá công nghệ thông tin, hướng tới nền tài chính hiện đại, văn minh và thuận tiện cho khách hàng. Theo thông tin từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), tỷ lệ người dân từ 15 tuổi trở lên sở hữu tài khoản ngân hàng đạt mức gần 90%; giá trị thanh toán không dùng tiền mặt đạt mức gấp 28 lần GDP; số lượng giao dịch không dùng tiền mặt tăng trên 37,9%, giá trị giao dịch tăng trên 14,2%; trên 154 triệu tài khoản cá nhân và 1,94 triệu tài khoản tổ chức trong tổng số hơn 232 triệu tài khoản khách hàng trên hệ thống đã thực hiện sinh trắc học; số vụ lừa đảo qua tài khoản ngân hàng giảm trên 50% so với cùng kỳ năm 2025. Tuy nhiên, vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật.
Trên thế giới và tại Việt Nam hiện nay, hành vi lợi dụng tài khoản ngân hàng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật diễn ra rất phức tạp, quy mô ngày càng lớn, phương thức, thủ đoạn hoạt động ngày càng tinh vi, phức tạp có tính chất tổ chức, xuyên biên giới… gây thiệt hại lên đến hàng ngàn tỷ USD, rất khó để thu hồi; bên cạnh đó, các quốc gia cũng phải chi ra đến hàng trăm tỷ USD để hoàn thiện, khắc phục hậu quả, nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin để phòng ngừa, ngăn chặn các hoạt động này.
Đáng chú ý, thời gian qua, dưới sức ép của một số quốc gia, Campuchia đã tổ chức bóc gỡ, triệt phá nhiều tổ chức lừa đảo quốc tế dẫn đến tình trạng các tổ chức này có xu hướng di chuyển sang Việt Nam để hoạt động; một số cá nhân người Việt Nam sau thời gian làm việc cho các tổ chức lừa đảo quốc tế, đã về nước trực tiếp mua trang thiết bị, tuyển dụng/lôi kéo/ép buộc người tham gia, thiết lập đường dây hoạt động lừa đảo…, ngoài gây thiệt hại về kinh tế cho người dân trong nước, tác động tiêu cực đến hình ảnh, uy tín của Việt Nam nói chung và hệ thống tài chính, ngân hàng nói riêng đối với quốc tế.
Đặc biệt, trong thời đại internet, công nghệ số toàn cầu hiện nay, các hành vi sử dụng tài khoản ngân hàng để thực hiện hành vi phạm tội ngày càng tinh vi, phức tạp liên quan đến các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia do tính chất không biên giới của hệ thống Mobile Banking, Internet Banking, app ngân hàng số/ví điện tử, các sàn giao dịch tiền kỹ thuật số; tốc độ xử lý các giao dịch ngày càng nhanh của hệ thống công nghệ thông tin dẫn đến dòng tiền được luân chuyển với tốc độ rất nhanh, trên diện rộng; lợi dụng các kẽ hở bảo mật, tính “ẩn” của cá nhân trên không gian mạng, che giấu tung tích để xâm nhập từ xa chiếm đoạt quyền điều hành, chiếm đoạt tài sản trong tài khoản khách hàng, tống tiền các cá nhân, tổ chức; sử dụng tính năng tự động trích tài khoản để luân chuyển dòng tiền ngay khi có tiền vào tài khoản…

Các hành vi vi phạm pháp luật phổ biến hiện nay thông qua tài khoản ngân hàng liên quan đến nhiều loại tội phạm như: lừa đảo, trốn thuế, đánh bạc, chuyển tiền trái phép, rửa tiền…
Theo đó, các hành vi vi phạm pháp luật phổ biến hiện nay thông qua tài khoản ngân hàng liên quan đến nhiều loại tội phạm như: lừa đảo, trốn thuế, đánh bạc, chuyển tiền trái phép, rửa tiền…
Để thực hiện các hành vi này, các đối tượng thường sử dụng các phương thức, thủ đoạn như: sử dụng giấy tờ giả để mở tài khoản ngân hàng; mua, bán, mượn, thuê tài khoản hoặc sử dụng các tài khoản cá nhân/tổ chức làm trung gian luân chuyển nguồn tiền bất hợp pháp hoặc hợp thức hoá mục đích vay vốn, phát hành trái phiếu, cổ phiếu…
Hiện nay, việc mở, sử dụng tài khoản của các cá nhân, tổ chức tại Việt Nam được quy định khá chặt chẽ theo Nghị định số 52/2024/NĐ-CP ngày 15/5/2024 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt và các thông tư của NHNN (Các Thông tư: số 17/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 về mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại các tổ chức chung ứng dịch vụ thanh toán; số 18/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 về hoạt động thẻ ngân hàng; số 48/2024/TT-NHNN về áp dụng các biện pháp an toàn, bảo mật trong giao dịch thanh toán trực tuyến và thanh toán thẻ ngân hàng; số 09/2023/TT-NHNN quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống rửa tiền; số 40/2024/TT-NHNN quy định về dịch vụ trong gian thanh toán… ).
Các hành vi vi phạm trong mở, sử dụng tài khoản có thể bị xử phạt hành chính và xử lý hình sự theo các quy định của pháp luật (Xử phạt hành chính theo quy định của Nghị định số 340/2025/NĐ-CP quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng; các Điều 291, 290, 174, 324… của Bộ Luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bộ Công an khuyến cáo doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân
Để phòng, tránh những rủi ro về mặt pháp lý do vi phạm pháp luật thông qua tài khoản ngân hàng, Cục An ninh kinh tế - Bộ Công an khuyến cáo doanh nghiệp, hộ kinh doanh, cá nhân cần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật.
Đáng chú ý, nhiều người dân cho rằng việc cho mượn, cho thuê hoặc bán thông tin cá nhân là hành vi đơn giản và không trực tiếp tham gia vào hoạt động phạm tội.
Tuy nhiên, đây là nhận thức sai lầm và tiềm ẩn nhiều hậu quả nghiêm trọng. Khi phát sinh giao dịch đáng ngờ, các vụ việc lừa đảo, tranh chấp thanh toán hoặc giao dịch có dấu hiệu vi phạm pháp luật, người đứng tên tài khoản sẽ phải làm việc với cơ quan chức năng để giải trình quá trình đăng ký, sử dụng tài khoản.
Các thông tin như căn cước công dân, số điện thoại, địa chỉ email, dữ liệu khuôn mặt, tài khoản ngân hàng, ví điện tử hoặc tài khoản thanh toán quốc tế… đều có thể trở thành căn cứ để xác minh trách nhiệm liên quan.
Trường hợp, cá nhân biết rõ mục đích vi phạm pháp luật nhưng vẫn cung cấp thông tin, đứng tên đăng ký, kích hoạt, xác minh hoặc giao tài khoản cho người khác sử dụng thì tùy tính chất mức độ vi phạm có thể phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Các hành vi vi phạm trong mở, sử dụng tài khoản ngân hàng có thể bị xử phạt hành chính và xử lý hình sự theo các quy định của pháp luật.
Về căn cứ pháp lý, Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2022 quy định nghiêm cấm hành vi cho mượn, cho thuê, mua bán tài khoản nhằm che giấu nguồn gốc tiền có được từ hành vi phạm tội. Nghị định số 88/2019/NĐ-CP của Chính phủ, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 143/2021/NĐ-CP, quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, trong đó có chế tài xử phạt nghiêm đối với hành vi cho thuê, cho mượn, mua bán tài khoản thanh toán.
Ngoài ra, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định nhiều tội danh liên quan, như tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174), tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông để chiếm đoạt tài sản (Điều 290), tội rửa tiền (Điều 324).
Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, người đứng tên tài khoản có liên quan có thể bị xem xét xử lý hình sự.
Hành vi cho thuê, cho mượn, mua bán hoặc mở hộ tài khoản ngân hàng bị xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 30 Nghị định 340/2025/NĐ-CP và xử lý hình sự theo Điều 291 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung). Cụ thể:
1. Xử phạt vi phạm hành chính
Theo các quy định hiện hành trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng (như Nghị định 340/2025/NĐ-CP):
Hành vi vi phạm: Thu mua, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn tài khoản ngân hàng, hoặc sử dụng tài khoản để thực hiện hành vi gian lận, lừa đảo.
Mức phạt: Phạt tiền lên đến 200 triệu đồng đối với cá nhân có hành vi vi phạm nghiêm trọng (mức phạt cụ thể tùy thuộc vào số lượng tài khoản và tang vật, tính chất hành vi). Ngoài ra còn có hình thức xử phạt bổ sung như tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hoặc buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp.
2. Xử lý trách nhiệm hình sự
Theo Điều 291 Bộ luật Hình sự 2015 (Tội thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng):
Khung phạt 1 (Phạt tiền từ 20 triệu đến 100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc tù từ 6 tháng đến 3 năm): Áp dụng cho người thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán hoặc công khai hóa trái phép từ 10 đến dưới 50 tài khoản ngân hàng của người khác hoặc thu lợi bất chính từ 20 triệu đến dưới 100 triệu đồng.
Khung phạt 2 (Phạt tiền từ 100 triệu đến 500 triệu đồng hoặc phạt tù từ 2 năm đến 7 năm): Áp dụng khi phạm tội thuộc một trong các trường hợp:
Có tổ chức.
Thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán hoặc công khai hóa trái phép 50 tài khoản ngân hàng trở lên.
Thu lợi bất chính 100 triệu đồng trở lên.
Tái phạm nguy hiểm.
Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đến 50 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 đến 5 năm.
Báo Chính phủ