TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

ĐHĐCĐ Nhơn Trạch 2 (NT2): Nửa đầu năm ước đạt 400 tỷ lợi nhuận, thực hiện được 65% kế hoạch 2020

ĐHĐCĐ Nhơn Trạch 2 (NT2): Nửa đầu năm ước đạt 400 tỷ lợi nhuận, thực hiện được 65% kế hoạch 2020

Nửa đầu năm 2020, Nhơn Trạch 2 (NT2) cũng đã trả thêm được 551 tỷ đồng nợ nước ngoài và đủ nguồn tiền để thực hiện chi trả cổ tức cho năm 2019.

Ngày 17/6/2020, Điện lực Dầu khí Nhơn Trạch 2 (NT2) đã tổ chức ĐHĐCĐ thường niên 2020, nhằm thông qua kế hoạch sản lượng điện 4.500 triệu kWh, tổng doanh thu hơn 7.177,42 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế 652,7 tỷ đồng, cổ tức dự kiến 20%.

Theo báo cáo của Bộ Công thương, năm 2020 sẽ thiếu điện do không bảo đảm nhiên liệu (than, khí) cho phát điện và cần phải huy động nguồn điện chạy dầu. Tình trạng thiếu khí đã xảy ra vào các tháng cao điểm mùa khô 2019 và dự báo sẽ tiếp tục diễn ra trong năm 2020. Các diễn biến này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình sản xuất kinh doanh của công ty.

Mặt khác, dự báo tình hình kinh tế năm 2020 tiếp tục phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng của dịch Covid-19, khả năng thiếu khí do suy giảm khả năng cấp khí, phân bổ Qc năm 2020 là 3.725 triệu kWh thấp hơn Qc các năm trước.

Theo đó, NT2 lên kế hoạch khá thận trọng, đồng thời đặt mục tiêu phải đẩy mạnh hơn thị trường điện cạnh tranh, chủ động nguồn khí thông qua việc tiếp xúc một số nhà cung cấp.

Công ty cũng đề ra kế hoạch hạn chế tối đa khi vận hành nhà máy bằng nhiên liệu dầu khi EVN chưa ký kết hợp đồng dịch vụ phụ trợ để thanh toán đầy đủ các chi phí khi vận hành dầu. Năm 2019, sản lượng điện chạy dầu do thiếu khí của NT2 là 5,91 triệu kWh nhưng chỉ được thanh toán chi phí nhiên liệu nên không có phần lợi nhuận sản xuất kinh doanh và việc vận hành bằng nhiên liệu dầu DO cũng làm tăng rủi ro về độ tin cậy vận hành của nhà máy. Một trong những nhiệm vụ trong năm 2020 của NT2 là hoàn thiện, ký kết để thanh toán đồng bộ các Hợp đồng sửa đổi bổ sung PPA, GSA (bao gồm phương án giá điện chạy dầu bao gồm phí công suất).

Trong năm 2019 Qc được phân bổ 3.788 triệu kWh thấp hơn Qc năm 2018 (4.025 triệu kWh) (tức doanh thu của hợp đồng mua bán điện giảm, đẩy sản lượng đó ra thị trường)nên việc cạnh tranh trong thị trường điện gặp khó khăn hơn. Ngoài ra, tình hình lượng khí cung cấp cho nhà máy điện Nhơn Trạch 2 bị suy giảm nhiều do tình trạng cung thiếu khí kéo dài (bình quân giảm 2-3 triệu Sm3/ngày). Vì vậy, khi giá thị trường tăng cao nhưng các tổ máy của Nhà máy lại không được huy động hết công suất theo thị trường làm ảnh hưởng đến doanh thu và lợi nhuận.

Tính đến cuối năm 2019, NT2 đã đạt mốc sản lượng 40,61 tỷ kWh sau hơn 8 năm vận hành thương mại. Tổng doanh thu 7.740,8 tỷ đồng, vượt 3,5% kế hoạch, lợi nhuận trước thuế 754 tỷ đồng. Năm 2019, NT2 đã trả nợ vay nước ngoài hơn 25 triệu USD và hơn 22 triệu EUR, tương ứng trả hơn 1.172 tỷ đồng. Theo lãnh đạo NT2, dự kiến hết tháng 6/2021 sẽ trả hết khoản nợ quốc tế.

Thảo luận

Dự kiến kết quả kinh doanh 6 tháng?

Sản lượng điện ước đạt gần 2,44 tỷ kWh, thực hiện 54% kế hoạch năm. Lợi nhuận trước thuế là 421 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế đạt 400 tỷ đồng, thực hiện 65% kế hoạch năm.

Chi phí về khí chiếm 70% giá thành, do đó giá khí giảm xuống đã giúp giảm giá thành và ghi nhận kết quả tích cực. Dự kiến trong quý 3 là mùa mưa bão khiến giá thị trường thấp và đến tháng 9 sẽ mất 30 ngày để trung tu nên thực hiện 6 tháng đầu năm cao.

Nửa đầu năm 2020, Công ty cũng đã trả thêm được 551 tỷ đồng nợ nước ngoài và đủ nguồn tiền để thực hiện chi trả cổ tức cho năm 2019.

Tình hình thiếu hụt khí, nếu tính trên toàn hệ thống nguồn cung cấp và tiêu thụ thì là bao nhiêu?

Mức huy động tối đa trên hệ thống Đông Nam Bộ là 22,5 triệu m3/ngày, do thiếu khí của lô 06.1 và mỏ Sao Vàng Đại Việt (SVDV), cũng như Phong Lan Dạ chưa vào kịp, nên hiện tại lượng khí cung cấp vào bờ dao động 16,5-18 triệu m3/ngày. Trong đó, 2 nhà máy BOT 1.500MW Phú Mỹ được bao tiêu khí khoảng hơn 6 triệu m3/ngày, phần còn lại là giao cho các tổ khác.

Hợp đồng của Nhơn Trạch 2 được bao tiêu 784 triệu m3/năm, với mức cao nhất 3,1 triệu m3/ngày, thấp nhất 2,2 triệu m3/ngày. Hiện NT2 đang thực hiện tốt bao tiêu này nên PVGas cam kết ký với Nhơn Trạch 2 mỗi ngày 2,79 triệu m3. Trên cơ sở đó, cục điều tiết điện lực phân bổ Qc cho Nhơn Trạch 2 là 3.788 triệu kWh.

Nếu không có bao tiêu khí đó, Nhơn Trạch 2 sẽ bị mất Qc vì không có khí để phân bổ Qc. Đó là lợi thế của NT2, và hợp đồng này có giá trị 25 năm suốt vòng đời dự án.

PVgas phải cung cấp khí cho Nhơn Trạch 2 theo bao tiêu bằng tất cả các nguồn khí. Có nghĩa, nếu 1 năm mà 784 triệu m3 khí mà NT2 không dùng hết thì phải trả tiền đủ cho 784 triệu m3 khí và năm sau được quyền lấy cái đó mà không phải trả tiền. Còn chạy hơn 784 triệu m3 thì phải trả tiền hoàn thổ và Pvgas có thể bằng nguồn khí của mình để cung cấp tiếp hoặc trừ vào nhu cầu khí năm sau của công ty.

Từ 2014-2017, NT2 chạy một năm hơn 1 tỷ m3/khí, trả tiền sòng phẳng nhưng nghĩa vụ bao tiêu khí Pvgas thì chúng ta đã âm của PVGas, nhưng may mắn là chúng ta đã đàm phán nhanh chóng Qc, nên làm việc với bên đầu mua khí và đầu bán điện thông nhau nên có được một ngày trung bình 2,79 triệu m3 khí để chạy. Và nếu trong trường hợp khí đủ, huy động thị trường cao thì chúng ta sẽ chạy được 3,1 triệu.

Do vậy, 3,1 triệu không phải nhu cầu bình thường mà là mức cao nhất là PVGas có thể cấp trong 1 ngày.

Hiện tại thiếu khí bởi vì khí cung cấp vào bị thiếu nguồn, một số nhà máy phải dừng, nhưng NT2 một ngày trung bình vẫn chạy 3,14 triệu m3

Còn đến cuối quý 4, mỏ SVDV và Phong Lan Dạ sẽ vào, cung cấp thêm cho hệ thống khoảng 4 triệu m3/ngày. Sẽ có thể, trong trường hợp suy giảm của lô 06.1 và 11.2 ở Bạch Hổ thì với lượng bổ sung này thì hệ thống sẽ có đủ khí để chạy.

Từ nay đến cuối năm, Công ty vận hành trên cơ sở lượng khí bình quân 2,79 triệu m3 khí/ngày. Sang năm, bổ sung được SVDV (đã ký được phụ lục hợp đồng, chưa sử dụng) thì thiếu hụt khí sẽ đỡ hơn. Tất nhiên, về lâu dài, Công ty đã lập tổ công tác nghiên cứu khai thác nguồn khí, làm việc với các nhà cung cấp khí LNG. Bộ Công thương đã cho phép đấu giá khí LNG tại nhà máy. Trong ngắn hạn, NT đang đủ chạy theo Qc.

Tình hình giá dầu giảm có bị ảnh hưởng không?

Khi phát triển mỏ thì các nhà phát triển đều đưa ra một giá sàn nhất định đủ để bù đắp chi phí phát triển mỏ. Và khi bán khi cho Pvgas thì bán từ ngang giá đó trở lên. Dầu giảm thì giá khí giảm nhưng không thấp hơn giá khí tự nhiên.

Dầu DO dự kiến năm 2020 của công ty hơn 700Sm3, vì sao tăng mạnh như vậy?

Theo quy định phải dự trữ dầu đủ cho 3 ngày vận hành, tương đương 4.200m3 dầu, là mức tối thiểu, nhưng để đảm bảo được mức này thì chi phí dự phòng sẽ tăng cao làm ảnh hưởng đến lợi nhuận.

Vì vậy, 2 năm liền, NT2 dự trữ ở mức 2.400m3, thấp hơn quy định, dù có sự cảnh báo của A0 nhưng NT2 chủ động kiểm soát vấn đề giá khí và giá dầu để dự trữ ở mức thấp nhất.

Để làm điều này, đã ký hợp đồng khung với dầu, khi A0 huy động dầu thì có hợp đồng khung, lấy 3 báo giá và trong vòng 24h có thể bốc dầu lên được nhà máy, vì vậy NT2 chỉ dự trữ cho khoảng hơn 1 ngày. Cộng thêm lượng dầu dưới bồn không thể chạy được (đảm bảo độ an toàn của bồn). Vừa qua, A0 có văn bản yêu cầu NT2 chạy, đề nghị NT2 phải nhập dầu và chúng tôi đã nhập dầu nhưng ở mức độ hạn chế nhất, tiệm cận ở mức an toàn dự trữ, sao cho để vận hành dầu chỉ 19h thôi, còn lại chạy bằng khí để có hiệu suất cao hơn, chi phí thấp hơn.

Trong năm 2019, việc hạn chế chạy dầu, chuyển sang chạy khí, NT2 lãi thêm 32 tỷ đồng.

Hiện tại, hợp đồng dịch vụ phụ trợ dầu đã đàm phán xong, nhưng vẫn còn một vài bước nữa mới xong, khi đó giá dầu sẽ được bù đắp. Nhưng vẫn là ưu tiên chạy khí.

NT2 có các khoản phải thu đáng chú ý, có dòng tiền đầu tư âm, đề nghị Công ty giải thích thêm. Ngoài ra, Công ty có lãi chênh lệch tỷ giá hơn 600 tỷ đồng, và dự kiến trả xong nợ trong 2021, vậy ảnh hưởng đến KQKD?

Kế toán trưởng cho biết: Khoản phải thu tiền điện tháng 11-12/2019 là 1.286 tỷ đồng, tại thời điểm 31/12 là khoản nợ chưa đến hạn, nhưng sau khi đến hạn thì NT2 đã hoàn thành việc thu công nợ.

Âm dòng tiền đầu tư, tức công ty chi ra 187 tỷ đồng để đầu tư tiền gửi có kỳ hạn trên 3 tháng. Còn tiền điện tháng 11-12 là tiền cho hoạt động sản xuất kinh doanh

Về chênh lệch tỷ giá các khoản nợ vay gồm chênh lệch tỷ giá thực hiện và chưa thực hiện. Dư nợ 100 triệu, trả nợ 5 triệu thì tại thời điểm trả nợ 5 triệu thì là đã thực hiện rồi. Còn dư nợ 95 triệu còn lại thì là chưa thực hiện. Lãi lỗ từ chênh lệch thì phải hạch toán trên báo cáo lãi lỗ, trừ giai đoạn đầu tư (treo trên tài khoản trung gian), sau đó hết giai đoạn đầu tư thì nếu lời hạch toán vào lợi nhuận dự án, lỗ thì phân bổ chi phí không quá 3 năm.

Còn trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì hạch toán trên báo cáo lãi lỗ.

Hiện nay, NT2 có LNST chưa phân phối có bao gồm khoản chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện- là khoản phi tiền tệ. Theo các quy định trước, khi DN chi trả cổ tức thì cân nhắc "chưa thực hiện việc chi trả cổ tức đối với khoản phi lợi nhuận" này. Sau tháng 6/2021 sẽ thực hiện trong công tác trả nợ, công ty sẽ báo cáo HDQT, cổ đông có phương án xử lý đối với khoản lãi chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện nằm trong LNST chưa phân phối.

Công ty có kế hoạch vay mới để đầu tư mới không?

Sau trả nợ, Công ty sẽ dư tiền và sẽ tăng lợi nhuận. Và một Công ty, nếu động vẫn ổn định như hiện nay, không có gì phát triển thì lợi ích mang lại không có gì đột biến. Do vậy, sau khi hết nợ, hết khấu hao, thì có thể Công ty sẽ đầu tư nâng công suất, nâng hiệu suất và phát triển mở rộng để có lợi nhuận tốt hơn.

Một năm, nếu 2021 trả nợ xong, sẽ bổ sung vào dòng tiền cả ngàn tỷ đồng, nếu đầu tư mở rộng như Nhơn Trạch 2 mở rộng trước đây, thì phải nằm trong các quy hoạch điện quốc gia và khoản đầu tư rất lâu.

Theo đó, với khoản trăm tỷ, ngàn tỷ thì ta đầu tư nâng công suất, ví dụ nhà máy công suất hiện là 750MW, đầu tư một hệ thống để giảm nhiệt độ đầu vào, khi đốt nhiều O2 hơn. Như vây 1m3 khí đáng lẽ tạo ra 100KW giờ tạo được 115KW – tăng hiệu quả sản xuất. Và đầu tư sản xuất lớn, khoảng 15-20 triệu USD.

Thứ 2 là hạ công suất tối thiểu (min), hiện tại công suất min của một tổ máy là 110MW, tức dưới mức này thì dừng máy. Ở những lúc thị trường thấp hoặc huy động ít, chúng ta muốn đảm bảo lợi nhuận thì phải lựa chọn giữa 2 vấn đề là: là dừng máy, nhưng phải chấp nhận khi khởi động lạnh mất khoảng 3,5 tỷ đồng, khởi động lạnh mất 650 triệu đồng. Còn huy động trên hệ thống điện quốc gia là theo giờ, nên lựa chọn dừng máy hay chạy tiếp là cả vấn đề.

Còn nếu chạy, thì chạy tối thiểu 110MW, nhưng lúc giá hợp đồng 2 đồng, 5 đồng, 7 đông thì lãng phí. Nên chúng ta đầu tư để giảm công suất min xuống còn khoảng 80MW. Tức không mất 30MW chạy không và để làm điều này cần khoảng 200.000-250.000 USD.

Đây là những thứ mà NT2 dự kiến sẽ thực hiện. Còn đầu tư mở rộng thì cần vốn lớn, như Nhơn Trạch 3-4, tổng vốn 1,5 tỷ USD, cần 20% vốn đối ứng cũng khoảng 300 triệu USD.

Cũng có thể, NT2 sử dụng dòng tiền đó để tham gia đầu tư vào các công ty cổ phần, đầu tư tài chính.

Tiến độ thương lượng lại hợp đồng PPA như thế nào?

Các chỉ tiêu về tổng mức quyết toán, chi phí liên quan đã được thống nhất. Còn mỗi IRR thì hiện EVN muốn duy trì mức chung các Nhà máy điện đang thực hiện và với NT2 là 10,66%, NT2 muốn nâng từ 11% trở lên để có hiệu quả hơn.

Đàm phán theo thông tư 56 là đàm phán theo hướng giảm giá, trước đây, ta có mức đầu tư xây dựng 13.700 tỷ đồng, nhưng vì NT2 làm tốt, đúng tiến độ, tiết kiệm được 100 triệu USD nên bây giờ lấy giá trị quyết toán công trình giảm đi 24 tỷ đồng, đúng bằng lượng tiết kiệm được.

Ngân sách trung tu và hạng mục trong năm nay?

Gồm 2 phần của nhà thầu trong nước PVPS xong về khối lượng và phương án thi công và đang thống nhất nhân sự thực hiện.

Với Siemen, về vật tư thì 30/7 về đến công trường, còn nhân sự, do ở Đức đang có dịch, Việt Nam cũng chưa nhận các chuyến bay quốc tế, nên chiều mai sẽ đàm phán với Siemen về việc sử dụng lực lượng chuyên gia như thế nào để đảm bảo đủ nhân sự thực hiện

NT2 có khả năng trả cổ tức 25% năm nay không?

Tôi cũng muốn con số này vì đây là truyền thống của công ty. Năm nay vì khó khăn nên xây dựng kế hoạch thận trọng là 20%, và cố gắng hơn. Đến thời điểm này chưa có cơ sở dữ liệu để trả lời chắc chắn với cổ đông sẽ trả được 25% trong năm 2020 hay không?

Nhà nước phát triển năng lượng tái tạo, có ảnh hưởng NT2?

Năng lượng tái tạo là năng lượng cho tương lai, còn trong hiện tại, với mức tăng trưởng điện 9-10%năm và các dự án lớn về điện không đưa vào kịp tiến độ thì việc thiếu điện có thể xảy ra vài năm tới.

Các dự án điện tái tạo, đa phần là lẻ tẻ, ảnh hưởng chủ yếu ở giờ cao điểm. Đặc biệt, từ 2021 sẽ phát điện cạnh tranh, khoảng 65% thị trường tham gia phát điện cạnh tranh – đây là lợi thế của NT2 có thể cung cấp lượng điện công suất lớn cho KCN lớn, đang có nhiều hợp đồng mua bán điện song song. Hiện nhà máy Nhơn Trạch 2 có máy tốt, chạy trong dải công suất rộng, và lên máy nhanh nên là lợi thế, được ưu tiên được lựa chọn. Hoặc các nhà máy điện có dải như NT2 thì có giá cao hơn, trong khi NT2 2021 trả xong nợ, 2025 hết khấu hao.

Việt Nam đón dòng vốn FDI lớn, NT2 có xem là cơ hội không?

Cơ hội lớn vì Nhà máy NT2 công suất 750Mw, nằm ở tam giác trọng điểm kinh tế phía Nam. Nhiều nhà máy mở tại Việt Nam thì nhu cầu tiêu thụ điện cũng tăng lên, họ yêu cầu công suất cao, lên đến 100MW và sự ổn định – cái này NT2 có.

Thứ 2, NT2 tham gia thị trường điện cạnh tranh thành công, với giá thấp nhất, và sắp tới tham gia thị trường điện bán buôn hoàn chỉnh, khi đó không chỉ có EVN là bên mua duy nhất, mà còn có 5 tổng công ty điện lực sẽ cùng chào mua. Khi đó, công ty sẽ chào giá bán như trên sàn chứng khoán, có thể chào trực tiếp các DN FDI.

Vòng đời của một tuabin Siemen là bao nhiêu năm? Sau khi hết vòng đời, nhà máy Nhơn Trạch 2 sẽ như thế nào?

NT2 xây dựng Nhà máy dựa trên cơ sở 25 năm cho 1 vòng đời dự án, để đảm bảo cho đầu tư, thu hồi vốn, lợi nhuận, nguồn nguyên liệu cung cấp đầu vào, sản phẩm bán điện đầu ra…thì tính toán trong 25 năm. Đối với máy Siemen hết 25 năm còn chạy không? Câu trả lời là có, vẫn chạy tiếp, chủ yếu quản trị ra sao.

Hợp đồng PPA, quý 3 nếu đàm phán xong thì giá điện quý 1-2 có hồi tố hay quy đổi ra sao?

Thông tư 56 có nội dung, giá trị của phụ lục bổ sung hợp đồng được tính kể từ ngày ký kết và không hồi tố tiền điện của thời gian trước đó. Nhưng, giá trị bình quân của vòng đời dự án thì có điều chỉnh. Còn tiền điện đã bán và thu về thì đến ngày ký phụ lục về trước thì không hồi tốt. Từ ngày ký sẽ tính giá điện mới trên cơ sở giá trung bình của phụ lục hợp đồng điều chỉnh.

Tri Túc

Theo Trí thức trẻ

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên