TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Giá thép trong nước tiếp tục giảm đến 1 triệu đồng/tấn

18-05-2022 - 09:27 AM | Thị trường

Thép Việt Nhật giảm 1,01 triệu đồng/tấn đối với cả CB240 và D10 CB300.

Nhiều doanh nghiệp thép xây dựng tiếp tục giảm giá sản phẩm từ ngày 17/5 và là đợt điều chỉnh thứ hai liên tiếp trong vòng một tuần. Thép Việt Nhật giảm mạnh nhất với 1,01 triệu đồng/tấn cho loại CB240 và D10 CB300. Sau khi giảm, giá hai loại thép trên còn lần lượt là 17,81 triệu đồng/tấn và 17,91 triệu đồng/tấn.

Giá thép trong nước tiếp tục giảm đến 1 triệu đồng/tấn - Ảnh 1.

Giá thép thương hiệu Việt Nhật. Nguồn: Steel Online.

Hòa Phát, doanh nghiệp chiếm 32,6% thị phần thép xây dựng toàn quốc trong năm 2021, giảm 800.000 đồng/tấn đối với thép cuộn CB240 tại thị trường miền Bắc, xuống còn 17,83 triệu đồng/tấn. Cũng tại khu vực này, thép D10 CB300 hạ 460.000 đồng/tấn xuống còn 18,28 triệu đồng/tấn.

Tại khu vực miền Nam, giá hai loại trên giảm lần lượt 750.000 đồng/tấn và 510.000 đồng/tấn xuống còn 17,93 triệu đồng/tấn và 18,28 triệu đồng/tấn. Trước đó, ngày 11/5, doanh nghiệp này điều chỉnh giảm 300.000 - 310.000 đồng/tấn, tùy loại thép.

Giá thép trong nước tiếp tục giảm đến 1 triệu đồng/tấn - Ảnh 2.

Diễn biến giá thép của thương hiệu Hòa Phát. Nguồn: Steel Online

Với thương hiệu thép Việt Ý, CB240 và D10 CB300 giảm lần lượt 570.000 đồng/tấn và 450.000 đồng/tấn xuống còn 17,98 triệu đồng/tấn và 18,23 triệu đồng/tấn.

Với Việt Đức ở khu vực miền Bắc, CB240 và D10 CB300 giảm 760.000 đồng/tấn và 510.000 đồng/tấn theo thứ tự và còn 17,81 triệu đồng/tấn và 18,37 triệu đồng/tấn.

Thép Kyoei cũng điều chỉnh giảm với các mức 500.000 đồng/tấn và 510.000 đồng/tấn đối với CB240 và D10 CB300. Sau điều chỉnh, giá hai mặt hàng trên là 18,07 triệu đồng/tấn và 18,27 triệu đồng/tấn.

Thép miền Nam giảm 310.000 - 410.000 đồng/tấn đối với CB240 và D10 CB300. Sau thay đổi, giá còn là 18,27 triệu đồng/tấn và 18,57 triệu đồng/tấn.

Từ đầu năm đến nay, giá thép xây dựng trong nước tăng 7 lần, trước khi giảm hai lần gần đây. Lý do giảm giá thép lần này được cho là giá phôi thép và nguyên vật liệu đầu vào đang trong xu hướng đi xuống. Theo báo cáo mới đây của Hiệp hội Thép Việt Nam, giá quặng sắt tại cảng Thiên Tân (Trung Quốc) ngày 9/5 giảm 16 USD một tấn so với tháng 4, về 139 USD mỗi tấn. Bên cạnh đó, các mặt hàng như thép phế liệu, điện cực graphite, cuộn cán nóng HRC... đều có xu hướng giảm giá so với thời điểm giao dịch đầu tháng 4 năm nay.

Thép thanh vằn tương lai tại Trung Quốc giảm 3%

Theo Trading Economics, giá thép thanh vằn tương lai tại Trung Quốc ngày 17/5 ở mức 4.901 nhân dân tệ/tấn, giảm 3% so với ngày trước đó và là mức thấp nhất 8 tuần. 

Về giá giao ngay, theo Sunsirs, thép cuộn cán nguội giao dịch ở 5.480 nhân dân tệ/tấn (813 USD/tấn), giảm 0,5% so với ngày 16/5, tiếp đà giảm trong suốt 10 ngày. Giá hiện tại thấp nhất trong gần ba tháng.

Giá thép trong nước tiếp tục giảm đến 1 triệu đồng/tấn - Ảnh 3.

Diễn biến giá cuộn cán nguội tại Trung Quốc. Nguồn: Sunsirs

Thép thanh vằn ở mức 4.812 nhân dân tệ/tấn (714 USD/tấn), hạ 0,1% so với ngày trước đó. Mặt hàng này giảm liên tục trong vòng 2 tuần qua, từ 5.000 nhân dân tệ/tấn (742 USD/tấn) trong ngày 4/5.

Giá giảm vì lo ngại nhu cầu thép đi xuống. Nhiều nhà đầu tư quan ngại nền kinh tế lớn thứ hai thế giới có thể bị ảnh hưởng trong quý II do tiêu dùng và sản xuất công nghiệp giảm trong tháng 4 do nhiều thành phố bị phong tỏa do Covid-19.

Mới đây, bà Bà Qu Xiuli, Phó Chủ tịch Hiệp hội Thép Trung Quốc (CISA), có cái nhìn tích cực rằng từ nay đến cuối năm, ngành thép sẽ phát triển mạnh mẽ hơn vì nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng và các chính sách hỗ trợ kinh tế phát huy hiệu quả tốt hơn. 

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cho biết nước này sẽ áp dụng gói chính sách để trợ giúp các ngành bị  ảnh hưởng bởi đại dịch, đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng và hỗ trợ phát triển thị trường bất động sản.

Về kim loại màu, giá nickel giảm 0,5% so với ngày trước đó, xuống còn 213.416 nhân dân tệ/tấn (31.674 USD/tấn). Nhôm cũng giảm 0,5% còn 20.430 nhân dân tệ/tấn (3.032 USD/tấn). Trong khi đó, chì, bạc, đồng diễn biến ngược chiều và giao dịch lần lượt 1,6%, 1,4% và 0,8%. Giá các mặt hàng này theo thứ tự là 25.938 nhân dân tệ/tấn (3.849 USD/tấn), 4.733 nhân dân tệ/tấn (702 USD/tấn) và 72.171 nhân dân tệ/tấn (10.711 USD/tấn).

Theo Đỗ Loan

Người đồng hành

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên