TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Mạng xã hội có được coi là "tổ chức hợp tác kinh doanh" để kê khai thuế?

Mạng xã hội có được coi là "tổ chức hợp tác kinh doanh" để kê khai thuế?

Bộ Tài chính cho  biết cơ quan này vừa nhận được một số ý kiến góp ý đối với dự thảo Thông tư hướng dẫn thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh…

Trong bản góp ý kiến cho dự thảo Thông tư hướng dẫn thuế và quản lý thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh gửi về Bộ Tài chính, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho rằng cần quy định rõ về trường hợp “tổ chức hợp tác kinh doanh với cá nhân”.

SÀN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ CÓ THUỘC TRƯỜNG HỢP PHẢI KÊ KHAI, KHẤU TRỪ THAY?

Cụ thể, dự thảo dự kiến bổ sung quy định về trách nhiệm kê khai, khấu trừ thay thuế của các tổ chức hợp tác kinh doanh với cá nhân nhưng lại chưa có quy định thế nào được coi là “tổ chức hợp tác kinh doanh với cá nhân”.

VCCI cho rằng, nếu không có quy định cụ thể sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc xác định mình có thuộc diện phải kê khai, khấu trừ thay hay không.

Trên thực tế, một số cá nhân có thu nhập được chi trả trực tiếp hoặc gián tiếp từ vật phẩm ảo do người dùng khác tặng khi thực hiện livestream trên nền tảng mạng xã hội. Vậy câu hỏi đặt ra là mạng xã hội đó có được coi là tổ chức hợp tác kinh doanh hay không?

Ngoài ra, với quy định như dự thảo Thông tư thì các sàn thương mại điện tử có thuộc trường hợp phải kê khai, khấu trừ thay hay không khi chính dự thảo Thông tư quy định cá nhân kinh doanh thương mại điện tử là người nộp thuế.

Như vậy, để đảm bảo tính rõ ràng của quy định Ban soạn thảo cần bổ sung khái niệm về tổ chức hợp tác kinh doanh với cá nhân, hoặc có thể quy định một số trường hợp ngoại lệ.

Liên quan đến quy định hộ, cá nhân kinh doanh quy mô lớn phải kê khai thuế theo tháng. Theo VCCI, đây là quy định mới với các hộ, cá nhân kinh doanh vốn đã quen với chế độ thuế giản đơn, nay chuyển sang chế độ kê khai thuế chặt chẽ, phức tạp hơn nên có thể tạo ra một số khó khăn ban đầu cho các đơn vị này khi thực hiện.

Do đó, để tạo thuận lợi cho các đối tượng này, đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc cho phép một thời gian chuyển tiếp 3 năm không áp dụng các chế tài hành chính trong trường hợp phát hiện người nộp thuế thực hiện kê khai sai.

Về quy định cá nhân có thu nhập từ sản phẩm, dịch vụ nội dung thông tin số thực hiện kê khai theo từng lần phát sinh.

Theo bản góp ý của VCCI, cách quy định như vậy lại bao hàm cả trường hợp các cá nhân có thu nhập từ sản phẩm, dịch vụ nội dung số do các tổ chức, doanh nghiệp, nhà cung cấp nền tảng ở nước ngoài chi trả như các youtuber, blogger hay các cá nhân thực hiện công việc dịch phim cho các nền tảng phim trực tuyến.

Tuy nhiên, chính trong dự thảo Thông tư đã quy định trách nhiệm kê khai, khấu trừ thay của các tổ chức, doanh nghiệp cung cấp nền tảng số cho cá nhân của những đối tượng này. Do đó, bổ sung quy định loại trừ trường hợp này để dễ thực thi, không gây khó khăn trong công tác quản lý.

Góp ý cho quy định doanh thu tính thuế với hoạt động vận tải là toàn bộ doanh thu và các khoản thu khác liên quan đến hoạt động vận tải của cá nhân, hộ kinh doanh.

VCCI  cho  rằng  dự thảo Thông tư không liệt kê cụ thể mà đưa ra quy định chung là “các khoản thu khác liên quan”.

Đây là quy định mang tính "bao trùm" nên không phù hợp vì có thể “các khoản thu liên quan” sẽ bao gồm cả những như phí gửi xe ở trung tâm thương mại hoặc tiền thưởng  riêng của khách hàng cho tài xế được thực hiện qua apps chứ không đưa  tiền mặt cho tài xế…

Để không bị “bao trùm” như vậy Thông tư cần quy định một số trường hợp loại trừ để phù hợp với thực tiễn.

XÂY DỰNG DỮ LIỆU VỀ CÁ NHÂN, HỘ KINH DOANH

Theo Ban soạn thảo, Thông tư này sẽ bổ sung thêm đối tượng áp dụng là tổ chức hợp tác kinh doanh với cá nhân, tổ chức trả thu nhập cho cá nhân kinh doanh. Quy định rõ căn cứ tính thuế đối với cá nhân kinh doanh là doanh thu tính thuế và tỷ lệ thuế tính trên doanh thu.

Dự thảo Thông tư quy định hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp kê khai. Cá nhân kinh doanh khai thuế từng lần phát sinh thì thời điểm xác định doanh thu tính thuế là thời điểm xác định doanh thu tính thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng.

Đối với hộ khoán thì thời điểm cá nhân thực hiện việc xác định doanh thu là từ ngày 20/11 đến ngày 15/12 của năm trước năm tính thuế.

Đối với cá nhân kinh doanh nộp thuế khoán mới ra kinh doanh hoặc cá nhân thay đổi quy mô, ngành nghề kinh doanh trong năm thì thời điểm cá nhân thực hiện việc xác định doanh thu tính thuế khoán của năm là trong vòng 10 ngày kể từ ngày bắt đầu kinh doanh hoặc ngày thay đổi quy mô, ngành nghề kinh doanh.

Với cá nhân cho thuê tài sản thì thời điểm xác định doanh thu tính thuế giá trị gia tăng và doanh thu tính thuế thu nhập cá nhân là thời điểm bắt đầu của từng kỳ hạn thanh toán trên hợp đồng thuê tài sản.

Còn đối với doanh thu hoá đơn do cơ quan thuế cấp theo từng lần phát sinh thì thời điểm xác định doanh thu tính thuế là thời điểm xác định doanh thu tính thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng.

Dự thảo còn quy định, với cá nhân cho thuê tài sản thì thời điểm xác định doanh thu tính thuế giá trị gia tăng và doanh thu tính thuế thu nhập cá nhân là thời điểm bắt đầu của từng kỳ hạn thanh toán trên hợp đồng thuê tài sản.

Ngoài ra, đối với cá nhân hợp tác kinh doanh với tổ chức thì thời điểm xác định doanh thu tính thuế thu nhập cá nhân là thời điểm thực hiện phân chia kết quả hợp tác kinh doanh.

Đối với cá nhân có thu nhập từ sản phẩm, dịch vụ nội dung thông tin số thì thời điểm xác định doanh thu tính thuế là thời điểm cá nhân thực nhận thu nhập.

Trường hợp cá nhân có thu nhập từ sản phẩm, dịch vụ nội dung thông tin số mà nhà cung cấp nền tảng số ở nước ngoài có thỏa thuận đối tác tại Việt Nam thực hiện chi trả thu nhập cho cá nhân thông qua tổ chức đối tác tại Việt Nam thì thời điểm xác định doanh thu tính thuế là thời điểm tổ chức đối tác tại Việt Nam thực nhận khoản chi trả cho cá nhân từ đơn vị cung cấp dịch vụ trực tuyến nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam.

Bộ Tài chính cho biết, đã giao Tổng Cục thuế xây dựng bộ chỉ số tiêu chí phân tích rủi ro đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh theo từng đối tượng, địa bàn quản lý.

Theo đó ngành thuế sẽ ứng dụng công nghệ thông tin để quản lý, cập nhật cơ sở dữ liệu về hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh trên từng địa bàn theo quy định.

Theo Lâm Phong

Theo VnEconomy

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên