MỚI NHẤT!

Đọc nhanh >>

Tăng trưởng GDP cao kỷ lục, một chỉ số "quay đầu" trong tháng 9, động lực tăng trưởng kinh tế Việt Nam "hồi sinh"

| | Kinh tế vĩ mô - Đầu tư

GDP quý III tăng 9,95%, cao hơn đáng kể hai quý đầu năm. Nhưng phía sau con số gần 10% này là một bức tranh nhiều lớp: đầu tư, xuất nhập khẩu, sản xuất và niềm tin doanh nghiệp cùng cải thiện, trong khi lạm phát, lãi vay và cán cân thương mại vẫn là những biến số cần theo dõi sát, TS. Lê Duy Bình - Giám đốc Economica Việt Nam cho biết.

Tăng trưởng GDP cao kỷ lục, một chỉ số "quay đầu" trong tháng 9, động lực tăng trưởng kinh tế Việt Nam "hồi sinh" - Ảnh 1.

Ảnh minh họa

 

GDP quý III tăng 9,95%, kinh tế đang tăng trưởng bền vững

GDP quý III/2026 tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 8,15% của quý I và 8,81% của quý II. Tính chung 9 tháng, nền kinh tế tăng 9,01%. Theo TS. Lê Duy Bình, điều đáng chú ý không chỉ nằm ở việc tốc độ tăng trưởng quý III tiến sát ngưỡng 10%, mà còn ở cấu thành của mức tăng trưởng này.

“Con số này có một số điểm đặc biệt đáng chú ý. Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng của quý III cao hơn quý trước, thể hiện xu thế kinh tế đang tăng trưởng khá bền vững trong năm vừa qua”, TS. Lê Duy Bình nhận định.

Nhìn vào các khu vực kinh tế, công nghiệp và xây dựng đang là lực kéo lớn nhất. Quý III, khu vực này tăng 12,50%, đóng góp 51,57% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của nền kinh tế. Dịch vụ tăng 9,54%, đóng góp 43,29%, trong khi nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,21%, đóng góp 5,14%.

Tính chung 9 tháng, công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, đóng góp gần một nửa mức tăng tổng giá trị tăng thêm, khoản 49,62%. Dịch vụ tăng 8,69%, đóng góp 45,03%. Riêng công nghiệp chế biến, chế tạo là khu vực vốn có vai trò đặc biệt quan trọng với nền kinh tế Việt Nam tăng 11,36% trong 9 tháng.

Không chỉ GDP tăng cao, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) cũng cho thấy nhịp hoạt động của khu vực sản xuất đang được duy trì. IIP quý III tăng 14,8% so với cùng kỳ; tính chung 9 tháng tăng 12,3%, trong đó chế biến, chế tạo tăng 12,9%. Đáng chú ý, IIP 9 tháng tăng ở cả 34 địa phương.

Theo TS. Lê Duy Bình, “một trong những yếu tố hỗ trợ tăng trưởng là tổng đầu tư đang tăng lên. Tổng đầu tư trong hàm tổng cầu đã tăng, trước hết là thông qua đầu tư công. Về số tuyệt đối, đầu tư công tăng hơn so với những năm trước, tuy nhiên vẫn chưa đạt kỳ vọng về tốc độ giải ngân nhưng chi tiêu của Chính phủ đã tăng”.

Báo cáo của Cục Thống kê cho thấy vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trong quý III đạt khoảng 1.291,2 nghìn tỷ đồng, tăng 16,7% so với cùng kỳ. Tính chung 9 tháng, con số này đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1%.

Nhưng câu chuyện đầu tư không chỉ nằm ở khu vực Nhà nước. Một dòng vốn khác đang tăng tốc mạnh, đó là dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI). 9 tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam đạt 50,36 tỷ USD, tăng tới 76,4% so với cùng kỳ. Vốn FDI thực hiện đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% và là mức thực hiện cao nhất trong 9 tháng của 5 năm qua.

“Đầu tư nước ngoài gia tăng rất mạnh mẽ. Đây là kỷ lục mới về số vốn thực hiện cao nhất trong vòng 5 năm qua. Số vốn đăng ký cũng tăng mạnh, cho thấy niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài đối với nền kinh tế Việt Nam tiếp tục được duy trì”, ông Bình chia sẻ,

Theo ông Bình, sự gia tăng của đầu tư tư nhân còn được phản ánh qua hàng loạt dự án, công trình được khởi công và việc nhiều điểm nghẽn pháp lý được tháo gỡ. Những yếu tố này hỗ trợ đắc lực cho tổng cầu của nền kinh tế.

Bên cạnh đó, ở khu vực tư nhân, một tín hiệu khác cũng đáng chú ý. Trong 9 tháng, hơn 223,9 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Trong khi đó, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường là khoảng 172 nghìn. Bình quân mỗi tháng có 24,9 nghìn doanh nghiệp gia nhập thị trường, cao hơn mức 19,1 nghìn doanh nghiệp rút lui.

Xuất nhập khẩu Việt Nam xác lập kỷ lục mới với 888,02 tỷ USD

Nếu đầu tư là một lực kéo, ngoại thương lại đang tạo ra một con số đủ lớn để trở thành điểm nhấn riêng của bức tranh 9 tháng. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 888,02 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ. Đây là mức cao kỷ lục mới.

Nhưng con số 888,02 tỷ USD đang phản ánh một điều cần được quan tâm. 9 tháng đầu năm, Việt Nam vẫn nhập siêu 19,42 tỷ USD, xuất khẩu tăng 24,5%, đạt 434,30 tỷ USD, nhưng nhập khẩu tăng cao hơn, tới 36,7%, đạt 453,72 tỷ USD. Đáng chú ý, tới 80,7% kim ngạch xuất khẩu thuộc về khu vực FDI.

Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu 9 tháng năm 2026, 94,1% là nhóm hàng tư liệu sản xuất, trong đó máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng chiếm 58,3% và nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 35,8%. Những con số này cho thấy một phần đáng kể hàng hóa nhập khẩu đang phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất.

Và trong tháng 9 đã xuất hiện một tín hiệu mà TS. Lê Duy Bình đặc biệt chú ý: cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu trở lại 1,27 tỷ USD, sau 8 tháng liên tục nhập siêu. Theo ông, diễn biến này có thể báo hiệu khả năng quay trở lại chu kỳ xuất siêu, qua đó giảm áp lực lên cán cân thanh toán và cán cân thương mại, đồng thời hỗ trợ tốt hơn cho tỷ giá trong bối cảnh lãi suất toàn cầu vẫn ở mức cao.

Tuy nhiên, “cán cân thương mại mặc dù có tín hiệu đảo chiều tốt trong tháng 9, nhưng đây mới chỉ là một tháng, chưa khẳng định được những tháng tiếp theo sẽ ra sao nên cần tiếp tục theo dõi và quan sát”, ông Bình nhận định.

Trong khi đó, một lực kéo khác của nền kinh tế là tiêu dùng cũng đang tăng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng đạt 5.925,7 nghìn tỷ đồng, tăng 13,4% so với cùng kỳ. Nếu loại trừ yếu tố giá, mức tăng là 7,8%, cao hơn mức 7,2% của cùng kỳ năm 2025.

Nhìn từ nhiều khía cạnh, nền kinh tế đang có sự đồng thời của sản xuất, đầu tư, thương mại và dịch vụ. Đó cũng là lý do TS. Lê Duy Bình cho rằng điểm sáng nhất của 9 tháng không chỉ là tốc độ tăng trưởng, mà là khả năng duy trì sự ổn định của nền kinh tế vĩ mô.

Theo ông, bên cạnh những biến động của cán cân thương mại trong các tháng đầu năm và việc CPI tiến gần mục tiêu, về cơ bản các chỉ số vĩ mô vẫn được duy trì. Và một tín hiệu quan trọng khác là niềm tin của doanh nghiệp và nhà đầu tư được cải thiện.

“Cụ thể, hoạt động ngoại thương duy trì tích cực, tốc độ tăng xuất khẩu và nhập khẩu rất mạnh so với những năm trước. Điều này cho thấy sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam vẫn được duy trì, khả năng đáp ứng sự thay đổi của thị trường quốc tế tốt hơn, đồng thời năng lực sản xuất và cung ứng dịch vụ đã được nâng cao”, ông Bình nhận định.

3 tháng cuối năm, áp lực lớn nhất của nền kinh tế đến từ lạm phát

Trong 3 tháng cuối năm, theo TS. Lê Duy Bình, áp lực lớn nhất của nền kinh tế đến từ lạm phát. CPI bình quân 9 tháng tăng 4,52% so với cùng kỳ; lạm phát cơ bản tăng 4,26%. Riêng tháng 9, CPI tăng 5,08% so với cùng kỳ và tăng 0,62% so với tháng trước.

Theo TS. Lê Duy Bình, chỉ số giá tiêu dùng trong 9 tháng đầu năm đã tiệm cận mức mục tiêu mà Quốc hội và Chính phủ đề ra. Do đó, trong 3 tháng còn lại, việc đầu tiên là phải kiểm soát mục tiêu này, không để dâng quá cao vì sẽ ảnh hưởng đến hàng loạt yếu tố khác như tiêu dùng cá nhân, bài toán kinh doanh của doanh nghiệp, giá nguyên nhiên vật liệu mua vào và hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn nền kinh tế. Lạm phát cao có thể bắt buộc Ngân hàng Nhà nước và Chính phủ phải áp dụng các biện pháp kiềm chế, một trong số đó là duy trì lãi suất điều hành ở mức cao. Điều này sẽ ảnh hưởng đến lãi suất cho vay đối với doanh nghiệp và người dân. Đó là một trong những chỉ dấu đáng quan tâm trong những tháng cuối năm, ông Bình cho biết.

Đáng chú ý, “chi phí lãi vay đối với nền kinh tế hiện nay đang quá cao, tạo áp lực lớn cho nhiều doanh nghiệp và người dân”, ông nhận định. Báo cáo thống kê không đi sâu vào mức độ tác động của lãi suất đối với từng nhóm doanh nghiệp, nhưng một chỉ dấu đáng chú ý là tăng trưởng tín dụng đến ngày 28/9 đạt 10,89%, thấp hơn mức 13,37% của cùng thời điểm năm trước. Theo ông Bình, đây là vấn đề cần được điều hành và cải thiện trong năm tới, nhằm đưa lãi suất về mức hợp lý hơn, từ đó hỗ trợ cả sản xuất và tiêu dùng.

Bên cạnh lạm phát và lãi suất, đầu tư công là biến số mà ông cho rằng cần được đẩy nhanh trong quý IV. “Chúng ta phải đẩy nhanh hơn nữa tốc độ giải ngân để đạt mức độ tích cực hơn so với những năm trước. Nếu giải ngân tốt nguồn vốn này sẽ hỗ trợ tích cực hơn cho tăng trưởng”, ông Bình nhấn mạnh

“Ngoài ra, những tháng cuối năm là cơ hội để kích thích tiêu dùng cá nhân. Nếu tăng được tiêu dùng trong dịp chuẩn bị Tết Nguyên đán, Noel hay Tết Dương lịch bằng các biện pháp hỗ trợ, sẽ đóng góp mạnh mẽ hơn cho tăng trưởng”, TS. Lê Duy Bình cho biết thêm.

Như vậy, GDP đang tăng tốc, đầu tư tăng, FDI lập kỷ lục về vốn thực hiện trong 9 tháng của 5 năm, thương mại đạt gần 900 tỷ USD và xuất siêu đã trở lại trong tháng 9. Trong khi đó, lạm phát đã tiến sát vùng mục tiêu, cán cân thương mại vẫn nhập siêu tính chung 9 tháng, chi phí vốn còn cao và một số chỉ báo kinh doanh cho thấy doanh nghiệp vẫn thận trọng.

Với TS. Lê Duy Bình, đó chính là những rủi ro cần được nhìn thấy ngay khi nền kinh tế đang tăng trưởng mạnh. Quý III đã đưa tốc độ tăng trưởng lên sát 10% nhưng theo TS. Lê Duy Bình, bài toán của quý IV không đơn thuần là làm cho con số tăng trưởng cao hơn, đó còn là giữ cho những động lực đang cùng tăng tốc như đầu tư, sản xuất, xuất khẩu, tiêu dùng và không tạo ra những áp lực mới lên lạm phát, lãi suất và cân đối vĩ mô.

Minh Tiến

Việt Nam hàng ngày

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên