MỚI NHẤT!

Đọc nhanh >>

Thị trường hàng hóa ngày 10/9: Giá tiêu bật tăng mạnh, cao su bứt phá

| | Thị trường chứng khoán

Thị trường hàng hóa ngày 10/9: Giá tiêu bật tăng mạnh, cao su bứt phá

Giá gạo trong nước giữ ổn định, trong khi hồ tiêu bất ngờ tăng mạnh 2.000 - 4.000 đồng/kg sau chuỗi ngày đi ngang. Heo hơi đồng loạt chững giá trên cả nước.

Giá tiêu bật tăng mạnh

Sau nhiều ngày gần như đi ngang, giá tiêu trong nước bất ngờ tăng mạnh tại hầu hết vùng sản xuất trọng điểm. Mức tăng phổ biến từ 2.000 - 4.000 đồng/kg, đưa mặt bằng thu mua lên 137.000 - 141.000 đồng/kg.

Giá hồ tiêu trong nước ngày 10/09/2026

Chỉ sau một phiên, mốc 140.000 đồng/kg đã xuất hiện trở lại tại hai vùng sản xuất lớn là Đắk Nông cũ và Đắk Lắk. Đây cũng là phiên biến động mạnh nhất của thị trường hồ tiêu trong những ngày gần đây.

Trái ngược với thị trường nội địa, giá tiêu thế giới tiếp tục ổn định. Tiêu đen Indonesia giữ ở 6.929 USD/tấn; tiêu đen ASTA 570 của Brazil ở mức 5.750 USD/tấn và tiêu đen Malaysia đạt 9.300 USD/tấn.

Tại Việt Nam, tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l tiếp tục dao động 5.990 - 6.050 USD/tấn. Tiêu trắng Việt Nam duy trì 8.400 USD/tấn, thấp hơn Indonesia ở mức 9.487 USD/tấn và Malaysia ở mức 12.200 USD/tấn.

Sau thời gian dài tích lũy quanh vùng 135.000 - 137.000 đồng/kg, phiên tăng mạnh ngày 10/9 cho thấy thị trường hồ tiêu trong nước đã xuất hiện tín hiệu mới. Diễn biến những phiên tới sẽ cho thấy liệu mốc 140.000 đồng/kg có được duy trì và mở rộng tại thêm nhiều địa phương hay không.

Cao su tiếp tục tăng mạnh trên các sàn châu Á

Giá cao su thế giới tiếp tục duy trì xu hướng tích cực khi lực mua lan rộng trên cả ba sàn giao dịch chủ chốt tại châu Á.

Trên sàn TOCOM của Nhật Bản, cao su RSS3 kỳ hạn tháng 9 tăng 1,73%, lên 468,10 Yên/kg. Hợp đồng tháng 10 đi ngang ở mức 443 Yên/kg.

Trên sàn SHFE Trung Quốc, cao su tự nhiên tháng 9 tăng 0,43% lên 18.780 Nhân dân tệ/tấn; kỳ hạn tháng 10 tăng 0,86%, đạt 18.850 Nhân dân tệ/tấn.

Đà tăng tiếp tục nổi bật tại sàn SGX Singapore. Hợp đồng TSR20 tháng 10 tăng 3,31% lên 249,90 Cent/kg; hợp đồng tháng 11 tăng 2,78% lên 247,60 Cent/kg.

Tại Thái Lan, giá chào xuất khẩu RSS3 giảm nhẹ 0,5% xuống 90,13 Baht/kg. Trong khi đó, cao su khối STR20 tăng 1,92% lên 83,34 Baht/kg.

Ở thị trường trong nước, giá thu mua tại các doanh nghiệp lớn tiếp tục ổn định. Bình Long giữ giá mủ nước tại nhà máy ở mức 540 đồng/độ TSC/kg, tại đội sản xuất 530 đồng/TSC/kg. MangYang thu mua khoảng 458 - 463 đồng/TSC; Phú Riềng và Cao su Bà Rịa cùng duy trì quanh 420 đồng/TSC.

Việc giá đồng loạt đi lên trên TOCOM, SHFE và SGX cho thấy tâm lý trên thị trường cao su châu Á đang cải thiện rõ rệt. Tuy vậy, diễn biến giữa các kỳ hạn vẫn còn phân hóa, nên thị trường cần thêm các phiên xác nhận để củng cố xu hướng tăng.

Giá gạo tiếp tục đứng giá

Giá gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nhìn chung ổn định, trong bối cảnh hoạt động mua bán vẫn diễn ra khá chậm.

Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, gạo nguyên liệu xuất khẩu IR 504 và CL 555 cùng dao động 8.650 - 8.750 đồng/kg. Gạo OM 5451 giữ ở mức 9.300 - 9.400 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.700 - 8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động 9.200 - 9.400 đồng/kg. Gạo OM 380 và Sóc thơm cùng duy trì 7.500 - 7.600 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ, giá gạo cũng đứng giá. Nàng Nhen tiếp tục có mức cao nhất 28.000 đồng/kg; Hương Lài và gạo Nhật cùng ở mức 22.000 đồng/kg; Nàng Hoa 21.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 - 22.000 đồng/kg; Jasmine ở mức 17.000 - 18.000 đồng/kg; Đài thơm và OM 18 cùng dao động 15.500 - 16.500 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục ổn định. Gạo thơm 5% tấm được chào bán trong khoảng 470 - 480 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm ở mức 373 - 377 USD/tấn; Jasmine đạt 534 - 538 USD/tấn.

Trong khi đó, gạo trắng 5% tấm của Thái Lan dao động 453 - 457 USD/tấn; Pakistan ở mức 406 - 410 USD/tấn. Ấn Độ tiếp tục có lợi thế về giá với gạo trắng 5% tấm ở mức 364 - 368 USD/tấn.

Đáng chú ý, nhu cầu nhập khẩu từ Philippines tiếp tục là yếu tố hỗ trợ triển vọng xuất khẩu gạo Việt Nam. Theo số liệu được dẫn trong nguồn, Philippines đã nhập 3,46 triệu tấn gạo tính đến ngày 13/8, trong đó Việt Nam cung cấp 2,56 triệu tấn, tương đương khoảng 74%.

Giá heo hơi đồng loạt chững lại

Giá heo hơi không ghi nhận biến động mới tại cả ba miền, duy trì trong khoảng 57.000 - 60.000 đồng/kg.

Giá heo hơi miền Bắc ngày 10/09/2026

Tại miền Bắc, giá tiếp tục dao động 58.000 - 60.000 đồng/kg và vẫn là khu vực có mặt bằng cao nhất cả nước. Thái Nguyên, Hà Nội, Phú Thọ và Hưng Yên cùng giữ mức 60.000 đồng/kg. Lào Cai và Điện Biên đứng ở 58.000 đồng/kg, trong khi các địa phương còn lại phổ biến ở 59.000 đồng/kg.

Giá heo hơi miền Trung - Tây Nguyên ngày 10/09/2026

Tại miền Trung - Tây Nguyên, giá heo hơi duy trì trong khoảng 57.000 - 58.000 đồng/kg. Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Gia Lai và Lâm Đồng cùng đứng ở 58.000 đồng/kg; các địa phương còn lại giữ mức 57.000 đồng/kg.

Giá heo hơi miền Nam ngày 10/09/2026

Ở miền Nam, Đồng Nai, Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang, TP. Hồ Chí Minh, Vĩnh Long và Cần Thơ cùng duy trì 58.000 đồng/kg. Cà Mau tiếp tục thấp nhất khu vực với 57.000 đồng/kg.

Việc cả ba miền cùng đi ngang cho thấy thị trường heo hơi hiện chưa hình thành xu hướng tăng hoặc giảm rõ rệt. Mặt bằng giá cả nước tiếp tục được giữ trong biên độ 57.000 - 60.000 đồng/kg.

Theo Thu Trang

Nhịp sống thị trường

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên