MỚI NHẤT!

Đọc nhanh >>

Tin vui: Việt Nam có thể khai thác “kho báu” hơn 700 tỷ USD từ một thứ bỏ đi

| | Kinh tế vĩ mô - Đầu tư

Đây là nguồn tài nguyên phục vụ sản xuất nông nghiệp có thể mang lại hàng tỷ USD trong tương lai gần.

Ảnh minh họa về nước thải.

Kho báu này là nước thải, thứ nhiều người coi là đồ bỏ đi.

Theo báo cáo gần đây của Fortune Business Insights, quy mô thị trường xử lý nước và nước thải toàn cầu được định giá ở mức 372,39 tỷ USD vào năm 2025 và dự kiến sẽ tăng từ 400,32 tỷ USD vào năm 2026 lên 713,96 tỷ USD vào năm 2034, với tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) là 7,50% trong giai đoạn dự báo. Đây cũng là lĩnh vực được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm, trong đó có Việt Nam.

Tại Việt Nam, áp lực đô thị hóa, ngập úng và ô nhiễm nguồn nước cũng đang đặt ra nhu cầu lớn về đầu tư hạ tầng thoát nước và xử lý nước thải. Theo số liệu của Bộ Xây dựng, tỷ lệ người dân Việt Nam được cấp nước sạch đã đạt hơn 95%. Nhưng năng lực xử lý nước thải lại chưa theo kịp tốc độ phát triển đô thị. Trong bối cảnh đó, việc tìm kiếm giải pháp cũng như thị trường công nghệ môi trường được đánh giá còn nhiều dư địa phát triển.

Làm sao để biến nước thải thành nguồn tài nguyên mới cho tương lai đô thị cũng là chủ đề được trao đổi tại hội thảo InnovaConnect ngày 5/6 vừa qua. Hội thảo với chủ đề “Hướng tới các thành phố bền vững: Các giải pháp tối ưu hóa nguồn nước đô thị phục vụ sản xuất nông nghiệp” do Quỹ VinFuture và Trường Đại học Văn Lang, TP HCM phối hợp tổ chức. Sự kiện có sự tham gia của khoảng 300 nhà khoa học, chuyên gia và nhà hoạch định chính sách trong nước và quốc tế.

Hội thảo InnovaConnect ngày 5/6 trao đổi về các giải pháp tối ưu hóa nguồn nước đô thị phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Các chuyên gia cho rằng nước thải không nên chỉ được xem là sản phẩm cuối của quá trình sử dụng mà có thể trở thành nguồn tài nguyên phục vụ sản xuất nông nghiệp.

GS Simon R. Bush (Đại học và Nghiên cứu Wageningen, Hà Lan) cho hay, ở các quốc gia có khí hậu gió mùa như Việt Nam, tính ổn định của nguồn nước đang bị phá vỡ bởi lượng mưa biến động ngày càng lớn, với thực tế khi thì thiếu hụt trầm trọng, lúc lại gây ngập lụt cục bộ.

“Thách thức về nước hiện nay không chỉ là vấn đề chất lượng, mà còn là trữ lượng”, GS nhấn mạnh.

GS Simon R. Bush chia sẻ tại hội thảo.

Do đó, theo ông, trước áp lực đó, các đô thị cần từng bước thay đổi tư duy quản lý tài nguyên, xem nước thải là đầu vào cho chu trình tuần hoàn mới, thay vì điểm cuối của quá trình sử dụng. Nước thải đã được tái sử dụng ở nhiều nơi, nhưng vấn đề cốt lõi là làm thế nào để sử dụng nguồn “tài nguyên mới” này một cách bền vững, cũng như kiểm soát hiệu quả các rủi ro về chất lượng và số lượng.

Đồng quan điểm, GS Adriaan Mels (Đại học và Nghiên cứu Wageningen, Hà Lan), cho rằng nước tái sử dụng có tiềm năng lớn đối với sản xuất nông nghiệp nhờ chứa nitơ, phốt pho và một số dưỡng chất có lợi cho cây trồng.

“Khi nông dân nắm vững hàm lượng dinh dưỡng trong nguồn nước thải và sử dụng phù hợp, họ hoàn toàn có thể chủ động cắt giảm và cân đối lượng phân bón bổ sung”, GS Adriaan Mels phân tích.

Đâu là lời giải cho bài toán xử lý nước thải ở Việt Nam?

GS Adriaan Mels chia sẻ về tầm quan trọng của hạ tầng phân phối nước.

Tại Hội thảo, GS Mels chỉ ra điểm đáng chú ý khác là hạ tầng phân phối nước. Ông phân tích, yếu tố then chốt là thiết lập hệ thống vận chuyển nước thải đã qua xử lý phục vụ đúng nhu cầu sử dụng, bao gồm cả khả năng lưu trữ nước khi cần thiết. Thực tế nhu cầu về nước cho nông nghiệp thay đổi theo mùa, trong khi nước thải đô thị lại phát sinh gần như liên tục. Điều này cũng đòi hỏi phải có hạ tầng lưu trữ và điều phối phù hợp để cân bằng nguồn cung và nhu cầu sử dụng.

GS Mels cho rằng việc khai thác hiệu quả nguồn nước thải tái sử dụng cần có chính sách và cơ chế khuyến khích theo hướng liên ngành, bao quát và tuần hoàn. Theo đó, khi được đặt trong một hệ sinh thái quản lý tổng thể, nước tái sử dụng có thể tiếp tục được xử lý và phục vụ nhiều mục đích khác nhau, qua đó tối đa hóa giá trị tài nguyên.

Ngoài ra, từ góc độ chính sách, GS Bush nhận định nhiều quốc gia hiện vẫn tập trung giải quyết các vấn đề ngắn hạn thay vì xây dựng chiến lược dài hạn cho quản trị tài nguyên nước.

“Việt Nam là một trong những quốc gia đi đầu trong việc xử lý các thách thức khí hậu. Tuy nhiên, cũng cần nâng cao năng lực điều chỉnh chính sách và quy hoạch trong dài hạn về nguồn tài nguyên nước”, GS Bush nhận định.

Cũng tại Hội thảo, nhóm nghiên cứu của TS Nguyễn Đăng Khoa (Trường Đại học Văn Lang, TP HCM) chia sẻ, Việt Nam từ lâu đã sở hữu các hệ sinh thái đất ngập nước tự nhiên, nhưng phần lớn lại chưa được tối ưu hóa. Nhưng thực tế lại có nhiều nhóm nghiên cứu tại châu Âu, trong đó có Đại học và Nghiên cứu Wageningen, đã nghiên cứu sâu về tiềm năng của đất ngập nước.

Chính vì vậy, định hướng của nhóm là kết hợp nền tảng sinh thái tự nhiên sẵn có của Việt Nam với các cải tiến kỹ thuật và kinh nghiệm nghiên cứu quốc tế để phát triển mô hình phù hợp hơn với điều kiện hạ tầng, khí hậu và nhu cầu thực tiễn trong nước.

GS Bush khẳng định đây cũng là giá trị cốt lõi mà hội thảo InnovaConnect mang lại. Theo GS, hội thảo không chỉ mở rộng trao đổi giữa các nhà nghiên cứu và trường đại học, mà còn tạo cầu nối với nhà hoạch định chính sách và những đơn vị trực tiếp triển khai. Đây cũng là cơ hội lớn để Việt Nam tiếp cận mạng lưới quốc tế và học hỏi kinh nghiệm toàn cầu về vấn đề này.

TS Nguyễn Đăng Khoa chia sẻ về dự án nghiên cứu tại hội thảo.

Tại Việt Nam, nhóm nghiên cứu của TS Nguyễn Đăng Khoa đang tập trung vào mô hình thí điểm đất ngập nước kiến tạo. Cụ thể, hệ thống này sử dụng cơ chế sinh học tự nhiên từ đất, thực vật và vi sinh vật để làm sạch nước thải, đồng thời hướng tới mục tiêu duy trì một phần dưỡng chất phục vụ tái sử dụng trong nông nghiệp.

Nhóm nghiên cứu cho rằng, đây không chỉ là giải pháp tưới tiêu đơn thuần, mà còn là mắt xích giúp tối ưu hóa phân phối tài nguyên. Bởi khi nhu cầu từ nông nghiệp giảm, nguồn nước chất lượng cao có thể được ưu tiên sử dụng cho các hoạt động đô thị và công nghiệp đòi hỏi tiêu chuẩn nghiêm ngặt hơn.

Nhưng để triển khai rộng rãi, thách thức lớn nhất không chỉ nằm ở công nghệ xử lý mà còn ở việc bảo đảm an toàn sức khỏe, ổn định chất lượng nước, kiểm soát rủi ro môi trường và khả năng vận hành lâu dài. Trong số đó, hai nguy cơ chính cần được kiểm soát nghiêm ngặt là mầm bệnh và các chất ô nhiễm tích tụ như kim loại nặng.

“Việc kiểm soát nguồn đầu vào, quan trắc định kỳ và đánh giá tích lũy trong đất, cây trồng, bùn từ đất ngập nước là yêu cầu quan trọng để đảm bảo chuỗi thực phẩm an toàn lâu dài”, TS Nguyễn Đăng Khoa nhấn mạnh.

Theo Minh Hằng

Nhịp sống thị trường

Trở lên trên