Cơ hội nào để người bị hại lấy lại tiền trong vụ "hợp đồng kỳ nghỉ"?
Theo Luật sư, những cá nhân từng mua hợp đồng của các công ty lừa đảo này cần khẩn trương tập hợp hồ sơ, chủ động liên hệ với cơ quan chức năng để xác định tư cách bị hại
- 18-06-2026Thông báo quan trọng đến tất cả người dùng VNeID, đặc biệt là người có tài khoản ngân hàng
- 18-06-2026Công an xác minh số tiền 350 triệu đồng chuyển vào tài khoản của người đàn ông SN 1981
- 18-06-2026Lời khuyên cho người mua bảo hiểm nhân thọ khi đọc hợp đồng để không bị "choáng"
Công an TP Hà Nội khởi tố các vụ án và đối tượng liên quan đến vụ án "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" bằng thủ đoạn bán gói nghỉ dưỡng, du lịch. Ảnh: CA
Liên quan đến vụ án "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" bằng thủ đoạn bán gói nghỉ dưỡng, du lịch, Cơ quan CSĐT Công an TP Hà Nội đã khởi tố 21 vụ án xảy ra 23 công ty, đồng thời khởi tố 187 bị can để điều tra về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Chỉ tính bước đầu, số tiền các đối tượng chiếm đoạt của khoảng 500 bị hại đã lên tới hơn 181,4 tỷ đồng.
Cùng thời điểm, Công an TP. Hồ Chí Minh đã đồng loạt khám xét và bắt giữ hàng chục đối tượng liên quan đến đường dây bán các gói sở hữu kỳ nghỉ có dấu hiệu lừa đảo quy mô lớn.
Giữa "mê hồn trận" của những hợp đồng được thiết kế tinh vi, dư luận đặt ra hai câu hỏi lớn: Những kẻ lừa đảo sẽ phải đối mặt với khung hình phạt nào, và liệu các bị hại có cơ hội lấy lại số tiền của mình hay không?
Chiêu trò "đổ lỗi" không còn tác dụng
Căn cứ vào tiến trình điều tra, các đối tượng liên quan đến 23 công ty bán kỳ nghỉ đã bị khởi tố về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
Theo Luật sư Nguyễn Văn Tuấn, Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội cho biết, việc một cá nhân hoặc tổ chức có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội danh liên quan đến hành vi chiếm đoạt tài sản trong hoạt động kinh doanh sở hữu kỳ nghỉ hay không sẽ phụ thuộc vào kết quả điều tra, xác minh của cơ quan tiến hành tố tụng và các chứng cứ thu thập được trong từng vụ việc cụ thể.
Trong trường hợp cơ quan điều tra có căn cứ xác định ngay từ thời điểm giới thiệu sản phẩm, ký kết hợp đồng hoặc nhận tiền của khách hàng, các đối tượng đã sử dụng thủ đoạn gian dối nhằm tạo ra thông tin sai sự thật, che giấu thông tin quan trọng hoặc đưa ra các cam kết mà họ biết rõ không có khả năng thực hiện nhằm làm cho khách hàng tin tưởng giao tiền, thì hành vi đó có thể bị xem xét dưới góc độ của tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với tội danh này, mức hình phạt được xác định căn cứ vào giá trị tài sản chiếm đoạt và tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi. Trường hợp chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500 triệu đồng trở lên hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội thì người phạm tội có thể phải đối mặt với khung hình phạt cao nhất từ 12 năm đến 20 năm tù hoặc tù chung thân.
Theo Luật sư, trong các vụ việc liên quan đến sở hữu kỳ nghỉ, nếu cơ quan điều tra xác định có nhiều người cùng tham gia, có sự phân công vai trò, nhiệm vụ, có quy trình tiếp cận khách hàng, tư vấn, ký kết hợp đồng và thu tiền được tổ chức một cách chặt chẽ thì vụ việc còn có thể bị xem xét dưới tình tiết phạm tội có tổ chức. Đây là một trong những tình tiết thể hiện mức độ nguy hiểm cao hơn của hành vi và là căn cứ để cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá trách nhiệm của từng cá nhân liên quan.
Bên cạnh đó, người phạm tội còn có thể phải chịu các hình phạt bổ sung như phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định theo quy định của pháp luật. Đồng thời, người phạm tội có trách nhiệm hoàn trả, bồi thường toàn bộ thiệt hại đã gây ra cho các bị hại trong vụ án.
Thủ đoạn của các công ty này thường chia làm hai hình thức: Bán kỳ nghỉ "ảo" bằng cách dụ dỗ khách hàng đến nhận voucher miễn phí rồi ép ký hợp đồng trị giá từ 200 - 900 triệu đồng. Hoặc giả danh môi giới chuyển nhượng kỳ nghỉ để ép khách hàng đóng phí cọc hoặc mua thêm hợp đồng mới nhằm chiếm đoạt tiền.
Khi bị khách hàng khiếu nại, một chiêu bài quen thuộc mà các công ty bán kỳ nghỉ thường xuyên sử dụng là "đổ lỗi cho nhân viên tư vấn" và tuyên bố "đã cho nhân viên đó nghỉ việc" nhằm rũ bỏ trách nhiệm.

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn, Giám đốc Công ty Luật TGS.
Tuy nhiên, Luật sư Nguyễn Văn Tuấn khẳng định, doanh nghiệp không thể dùng lý do này để trốn tránh. Khách hàng ký hợp đồng với doanh nghiệp, tiền hàng trăm triệu hay hàng tỷ đồng được chuyển vào tài khoản doanh nghiệp và doanh nghiệp là bên trực tiếp hưởng lợi.
Hơn nữa, khi hàng chục, hàng trăm khách hàng trong nhiều năm liên tục cùng phản ánh về một kịch bản lừa đảo y hệt nhau, cơ quan chức năng có đầy đủ cơ sở để xác định đây là một phương thức bán hàng mang tính hệ thống, có tổ chức của tổ chức kinh doanh, chứ không thể là hành vi tự phát của một vài cá nhân đơn lẻ. Do đó, việc xử lý nhân viên nghỉ việc chỉ là vấn đề nội bộ, hoàn toàn không làm thay đổi hay miễn trừ trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với hậu quả đã gây ra cho khách hàng.
Người bị hại cần phải làm gì?
Đối với khoảng 500 nạn nhân của hệ sinh thái 23 công ty lừa đảo nêu trên, sự lo lắng lớn nhất hiện tại là nguy cơ mất trắng tài sản. Luật sư Tuấn cho rằng, cơ hội để các bị hại lấy lại tiền là "khả thi và thực tế".
Theo đó, cơ quan chức năng đang nhanh chóng tiến hành truy thu, phong tỏa, cấm mọi giao dịch và phát mại các tài sản của những đối tượng lãnh đạo công ty cũng như những nhân viên được xác định là có thu lợi bất chính từ tiền lừa đảo của khách hàng.
Chuyên gia khuyến cáo, người dân cần hiểu đúng về quy trình tố tụng để tránh tâm lý nóng vội. Cơ quan công an là đơn vị điều tra bước đầu, có nhiệm vụ xác minh số tiền thiệt hại và phong tỏa tài sản. Tuy nhiên, cơ quan công an không có thẩm quyền trực tiếp chia tiền trả lại cho người dân ngay lập tức. Hồ sơ vụ án sau khi kết luận điều tra sẽ được chuyển sang Tòa án.
Theo pháp luật hiện hành của Việt Nam, Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền tuyên án định tội và ra quyết định chi trả, bồi thường tỷ lệ các khoản tiền đã phong tỏa cho từng bị hại tương ứng với số tiền họ đã bị lừa đoạt. Tiến trình này đòi hỏi thời gian để thực hiện đúng các trình tự, thủ tục tố tụng nghiêm ngặt.
Để bảo vệ tốt nhất quyền lợi của mình và đẩy nhanh quá trình thụ lý, các luật sư khuyến cáo những cá nhân từng mua hợp đồng của các công ty lừa đảo này cần khẩn trương, chủ động liên hệ ngay với Cơ quan Cảnh sát điều tra đang thụ lý vụ án. Việc cung cấp bằng chứng là yếu tố mang tính quyết định.
Các bị hại cần chuẩn bị kỹ lưỡng bộ hồ sơ bao gồm: Hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ đã ký, các phiếu thu tiền, sao kê mã giao dịch chuyển khoản ngân hàng, và đặc biệt là các bằng chứng giao tiếp như tin nhắn, file ghi âm giữa bị hại và nhân viên của công ty.
Bên cạnh đó, người dân cũng cần tỉnh táo nhận thức rõ bản chất của "sở hữu kỳ nghỉ". Đây hoàn toàn không phải là mua bất động sản hay tài sản sinh lời có giá trị thừa kế như những lời quảng cáo đường mật, mà bản chất chỉ là một hợp đồng dân sự về quyền sử dụng dịch vụ lưu trú có thời hạn.
Việc triệt phá hàng loạt công ty bán kỳ nghỉ lừa đảo lần này không chỉ là đòn giáng mạnh vào các tổ chức tội phạm kinh tế, mà còn là tiếng chuông cảnh tỉnh cho người tiêu dùng. Dù hành trình đòi lại tài sản sẽ cần thời gian và tuân thủ các bước của pháp luật, nhưng với sự vào cuộc quyết liệt của cơ quan chức năng trong việc phong tỏa tài sản dòng tiền phạm tội, cánh cửa công lý và cơ hội hoàn tiền cho các nạn nhân đang rộng mở hơn bao giờ hết.
Ngay sau khi các đối tượng bị khởi tố, cơ quan điều tra cũng phát đi thông báo đề nghị những ai là bị hại hoặc có liên quan việc mua bán "hợp đồng kỳ nghỉ" thì liên hệ Phòng Cảnh sát kinh tế, Công an TP Hà Nội, địa chỉ: 382 Khâm Thiên, phường Văn Miếu - Quốc Tử Giám để phối hợp điều tra.
Cơ quan chức năng cũng nhấn mạnh: Người bị mất tiền trong các giao dịch kỳ nghỉ cần chuẩn bị hợp đồng kỳ nghỉ, các hợp đồng giao dịch có liên quan đến sở hữu kỳ nghỉ, các hóa đơn chứng từ, biên lai nộp tiền và các thông tin có liên quan đến người môi giới, đến công ty kinh doanh nghỉ để giao nộp cho cơ quan điều tra, làm căn cứ giải quyết vụ án và làm cơ sở để nhận lại số tiền cho các bị can đã chiếm đoạt trong thời gian qua….
Theo Điều 62, Bộ luật tố tụng hình sự quy định: "Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra."
Theo đó bộ luật tố tụng hình sự quy định Bị hại hoặc người đại diện của họ có quyền:
- Được thông báo, giải thích quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều này;
- Đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; Đề nghị giám định, định giá tài sản theo quy định của pháp luật; Được thông báo kết quả điều tra, giải quyết vụ án;
- Đề nghị thay đổi người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật; Đề nghị hình phạt, mức bồi thường thiệt hại, biện pháp bảo đảm bồi thường;
- Tham gia phiên tòa; trình bày ý kiến, đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi bị cáo và người khác tham gia phiên tòa; tranh luận tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; xem biên bản phiên tòa; Tự bảo vệ, nhờ người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;
- Tham gia các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này; Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình, người thân thích của mình khi bị đe dọa; Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án; Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
Bị hại có nghĩa vụ: Có mặt theo giấy triệu tập của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; trường hợp cố ý vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan thì có thể bị dẫn giải; Chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Trường hợp bị hại chết, mất tích, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì người đại diện thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bị hại quy định tại Điều này.
Cơ quan, tổ chức là bị hại có sự chia, tách, sáp nhập, hợp nhất thì người đại diện theo pháp luật hoặc tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức đó có những quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều này.
VTV