MỚI NHẤT!

Đọc nhanh >>

Có tránh được một 'cuộc đua lãi suất'?

| | Tài chính - ngân hàng

Có tránh được một 'cuộc đua lãi suất'?

Vấn đề cốt lõi là thanh khoản của hệ thống các tổ chức tín dụng cần được giải quyết. Nếu thanh khoản căng thẳng, việc tăng lãi suất huy động sẽ nhanh chóng lan sang lãi suất cho vay, làm gia tăng chi phí vốn của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.

Vì sao lãi suất tăng?

Năm ngoái, công ty của ông Thành tiếp cận vốn vay của một ngân hàng tại TP.HCM với mức lãi suất khoảng 7%. Năm nay, cũng ngân hàng đó, công ty của ông vừa được giải ngân khoản vay với lãi suất đã lên tới 10,7%. Như vậy, trong vòng 1 năm, công ty phải trả thêm 3,7% chi phí vốn.

Cả lãi suất huy động và lãi suất cho vay bình quân đều tiếp tục xu hướng tăng kể từ vùng đáy năm 2024, phản ánh mặt bằng lãi suất nhích lên trên toàn hệ thống, theo Chứng khoán Shinhan Việt Nam.

Với dữ liệu cập nhật đến tháng 5/2026, công ty chứng khoán này cho biết, lãi suất huy động kỳ hạn 6-12 tháng bình quân toàn hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) tăng lên 6,65%, trong khi lãi suất cho vay bình quân đạt 9,05%.

Dữ liệu mới đây từ NHNN Việt Nam cũng cho thấy, trong tháng 6/2026, lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân của nhóm NHTM nhà nước và nhóm NHTM cổ phần đối với các khoản tiền gửi mới và cũ đã ở mức 6,1-7,6%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn 6-12 tháng. Trong khi đó, lãi suất cho vay bình quân đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 8,1- 10,5%/năm.

Theo các chuyên gia, việc lãi suất tăng trong thời gian gần đây chủ yếu phản ánh áp lực thanh khoản của hệ thống ngân hàng hơn là sự thay đổi trong định hướng điều hành chính sách tiền tệ. Minh chứng đến từ số liệu của Cục Thống kê. Tới cuối tháng 6/2026, tăng trưởng tín dụng đạt 7,41%, trong khi huy động vốn chỉ tăng 5,02%, khiến nhu cầu vốn vượt khả năng huy động và tạo áp lực lên thanh khoản của các tổ chức tín dụng.

Bên cạnh đó, khoảng 80% nguồn vốn huy động là ngắn hạn, trong khi nhu cầu vay của doanh nghiệp chủ yếu là trung và dài hạn, làm gia tăng áp lực cân đối nguồn vốn. Trong bối cảnh nền kinh tế đặt mục tiêu tăng trưởng cao, đồng thời vẫn phải kiểm soát lạm phát và ổn định tỷ giá, dư địa để tiếp tục giảm lãi suất ngày càng thu hẹp.

Như vậy, theo TS Đào Lê Trang Anh, Giảng viên cấp cao ngành Tài chính, Đại học RMIT Việt Nam, các ngân hàng buộc phải nâng lãi suất huy động để thu hút tiền gửi, qua đó đẩy mặt bằng lãi suất cho vay tăng theo.

Tuy nhiên, "cuộc đua lãi suất" của các ngân hàng khiến chi phí vốn của doanh nghiệp tăng lên, đặc biệt khi khu vực doanh nghiệp Việt Nam vẫn phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng để tài trợ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Hiện nay, tín dụng ngân hàng vẫn chiếm khoảng 130-140% GDP, phản ánh mức độ phụ thuộc rất lớn của doanh nghiệp vào vốn vay ngân hàng.

"Toàn bộ hiệu quả kinh doanh bị chi phí tài chính nuốt trọn. Chúng tôi như đang làm giùm cho ngân hàng", ông Thành than phiền.

Còn trong một báo cáo mới đây của Hiệp hội Doanh nghiệp TP.HCM, có 17% doanh nghiệp được khảo sát đã phản ánh về lãi suất vay vốn cao.

Có tránh được một 'cuộc đua lãi suất'?   - Ảnh 1.

Về trung và dài hạn, lãi suất cao kéo dài có thể ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và triển vọng tăng trưởng kinh tế. (Ảnh minh hoạ: Hawa)

Tác động rõ nhất khi lãi suất tăng là áp lực lên dòng tiền và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Với chi phí lãi vay tăng, doanh nghiệp phải dành một phần lớn hơn trong dòng tiền để thanh toán chi phí tài chính, làm giảm lợi nhuận và hạn chế nguồn lực dành cho đầu tư máy móc, đổi mới công nghệ hay mở rộng sản xuất.

Những doanh nghiệp có tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao như bất động sản, xây dựng, sản xuất chế biến và đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề hơn. Để duy trì hoạt động, nhiều doanh nghiệp buộc phải chấp nhận giảm biên lợi nhuận, cắt giảm quy mô sản xuất hoặc kéo dài thời gian thanh toán với đối tác để giảm áp lực thanh khoản.

"Về trung và dài hạn, lãi suất cao kéo dài có thể ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và triển vọng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Theo Khảo sát Kinh tế Việt Nam 2025 của OECD, khu vực doanh nghiệp Việt Nam vẫn đang đối mặt với mức nợ tương đối cao trong khi triển vọng xuất khẩu chịu nhiều rủi ro từ bất ổn thương mại toàn cầu. Trong bối cảnh đó, chi phí vốn gia tăng sẽ khiến doanh nghiệp thận trọng hơn trong các quyết định đầu tư, trì hoãn các dự án mở rộng và giảm khả năng nâng cao năng suất. Điều này không chỉ làm suy giảm đầu tư tư nhân mà còn có thể ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế trong những năm tới", thành viên Đại học RMIT nhận định.

Giải quyết thanh khoản cho ngân hàng

Hiện tượng "cuộc đua lãi suất" giữa các ngân hàng thường phản ánh sự mất cân đối thanh khoản trong hệ thống hơn là hành vi cạnh tranh đơn thuần. Do đó, TS Trần Thị Diện - Trưởng Khoa Tài chính - Ngân hàng - Kế toán, Trường Đại học Hùng Vương TP.HCM cho rằng, giải pháp căn bản không nằm ở các biện pháp hành chính đơn lẻ, mà ở việc đảm bảo ổn định thanh khoản, củng cố niềm tin thị trường.

Quan trọng hơn, theo bà, cần nhìn nhận rằng áp lực lãi suất không chỉ xuất phát từ phía cung vốn (ngân hàng), mà còn từ phía cầu vốn của nền kinh tế. Việc phát triển các kênh dẫn vốn thay thế như thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường vốn là giải pháp mang tính cấu trúc nhằm giảm phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng.

TS Huỳnh Thanh Điền - Trường Đại học Nguyễn Tất Thành cho hay "cuộc đua lãi suất" chỉ có thể hạ nhiệt khi thanh khoản hệ thống được cải thiện, huy động vốn theo kịp tăng trưởng tín dụng và áp lực lạm phát, tỷ giá giảm xuống.

Dẫu vậy, ông Điền nhấn mạnh việc cần hỗ trợ thanh khoản có mục tiêu, không nới lỏng tiền tệ đại trà; linh hoạt bơm vốn ngắn hạn, kiểm soát tín dụng vào lĩnh vực rủi ro và ưu tiên vốn cho sản xuất, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Về phía doanh nghiệp, ông khuyến nghị việc cơ cấu lại nợ, kiểm soát dòng tiền, giảm đầu tư dàn trải, đẩy nhanh thu hồi công nợ, tiết giảm chi phí và đa dạng hóa nguồn vốn để giảm áp lực tài chính trong lúc này.

"Muốn tránh một cuộc chạy đua lãi suất thì trước hết phải giải quyết vấn đề cốt lõi là thanh khoản của hệ thống các tổ chức tín dụng", bà Trang Anh phân tích kỹ hơn dưới góc độ vĩ mô.

Khi thanh khoản dồi dào, các ngân hàng sẽ không phải cạnh tranh bằng cách nâng lãi suất huy động để thu hút tiền gửi. Ngược lại, nếu thanh khoản căng thẳng, việc tăng lãi suất huy động sẽ nhanh chóng lan sang lãi suất cho vay, làm gia tăng chi phí vốn của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.

Do đó, thay vì chỉ áp dụng các biện pháp hành chính nhằm kiểm soát lãi suất, NHNN cần tiếp tục điều hành linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ như nghiệp vụ thị trường mở (OMO), tái cấp vốn và điều tiết dự trữ bắt buộc để đảm bảo thanh khoản ổn định cho toàn hệ thống.

TS Đào Lê Trang Anh, Giảng viên cấp cao ngành Tài chính, Đại học RMIT Việt Nam. (Ảnh: NVCC)

Mặt khác, việc cải thiện thanh khoản không chỉ phụ thuộc vào chính sách tiền tệ mà còn cần sự phối hợp của chính sách tài khóa và các chính sách phát triển kinh tế. Chính phủ cần đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, sớm tháo gỡ các dự án đang bị đình trệ để dòng tiền quay trở lại nền kinh tế, đồng thời triển khai hiệu quả các chương trình bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ lãi suất có mục tiêu và các chính sách giãn, hoãn thuế cho doanh nghiệp.

Song song, Nhà nước cần ưu tiên tín dụng cho khu vực sản xuất, xuất khẩu và doanh nghiệp nhỏ và vừa, đồng thời kiểm soát dòng vốn vào các lĩnh vực đầu cơ để nâng cao hiệu quả phân bổ vốn.

Về dài hạn, theo bà Trang Anh, cần giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng bằng cách đa dạng hóa các kênh huy động vốn của nền kinh tế; tiếp tục phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp, thị trường cổ phiếu và các quỹ đầu tư để cung cấp nguồn vốn trung và dài hạn. Đồng thời, xử lý nợ xấu, hoàn thiện cơ chế xử lý tài sản bảo đảm và tái cơ cấu các tổ chức tín dụng yếu kém nhằm khơi thông nguồn lực tài chính trong hệ thống là việc cần đẩy nhanh.

"Khi thanh khoản được củng cố từ gốc và doanh nghiệp có thêm các kênh huy động vốn ngoài ngân hàng, áp lực cạnh tranh lãi suất sẽ giảm đáng kể, qua đó góp phần duy trì mặt bằng lãi suất ổn định và hỗ trợ tăng trưởng bền vững", vị chuyên gia bổ sung.

Theo Trần Chung

An ninh tiền tệ

Từ Khóa:

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên