TIN MỚI!

Đọc nhanh >>

VN-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

HNX-Index:

GTGD: tỷ VNĐ

Động lực và kịch bản tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2021

03-02-2021 - 15:46 PM | Tài chính - ngân hàng

Động lực và kịch bản tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2021

Theo TS. Cấn Văn Lực và Nhóm chuyên gia Viện Đào tạo & Nghiên cứu BIDV, trong kịch bản cơ sở, tăng trưởng GDP Việt Nam năm 2021 có thể đạt 6,5-7% với các động lực chính đến từ ngành nông-lâm-thuỷ sản; công nghiệp chế biến, chế tạo; và một số lĩnh vực dịch vụ.

TS. Cấn Văn Lực và Nhóm tác giả Viện Đào tạo và Nghiên cứu BIDV vừa công bố báo cáo nghiên cứu về Động lực và kịch bản tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2021.

Báo cáo cho biết, năm 2020, dịch Covid-19 khiến kinh tế toàn cầu suy thoái (tăng trưởng -3,5%, theo IMF), song Việt Nam là một trong số ít các nước phòng, chống và kiểm soát tốt dịch bệnh; tạo điều kiện thuận lợi cho phục hồi KTXH. Tăng trưởng GDP năm 2020 đạt  2,91%, tuy thấp hơn mục tiêu 6,8% và là mức thấp nhất trong vòng 10 năm qua, nhưng là mức tăng trưởng dương và thuộc nhóm cao nhất thế giới. 

Từ phía tổng cầu, động lực tăng trưởng đến từ tiêu dùng (đóng góp 2,35 điểm %, tương đương 80,7% trong mức tăng trưởng chung), đầu tư (đóng góp 1 điểm %, tương đương 34,4 % trong mức tăng trưởng chung) và xuất khẩu ròng (làm giảm 0,2 điểm %, tương đương 5,8% GDP trong mức tăng trưởng chung). Từ phía tổng cung, tăng trưởng chủ yếu đến từ khu vực nông-lâm-thủy sản (đóng góp 13,5% trong mức tăng trưởng chung), công nghiệp chế biến – chế tạo (đóng góp 36%), xây dựng (18,2%), dịch vụ (33,5%, chủ yếu đến từ dịch vụ bán buôn – bán lẻ, tài chính-ngân hàng, CNTT – viễn thông, giáo dục – đào tạo, trong khi lưu trú-ăn uống chiếm 21,3% trong mức giảm chung...) (Biểu đồ 1).

Động lực và kịch bản tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2021 - Ảnh 1.

Trong năm 2021, kinh tế thế giới dự báo sẽ phục hồi mạnh hơn với 3 lý do chính: (i) tình hình dịch Covid-19 dự báo được kiểm soát tốt hơn cùng với việc phát triển và phân phối vaccine khả quan, (ii) các nước vẫn tiếp tục các chính sách, gói hỗ trợ, (iii) đà phục hồi mạnh hơn sau thời gian dài đương đầu dịch bệnh. Theo đó, mức độ phục hồi của nền kinh tế Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào việc khống chế và kiểm soát dịch bệnh trên phạm vi toàn cầu và trong nước. Do đó, Chính phủ Việt Nam đã xác định tiếp tục thực hiện "mục tiêu kép", vừa phòng chống dịch bệnh hiệu quả, vừa phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Các chuyên gia của Viện Đào tạo & Nghiên cứu BIDV dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2021 cả về phía tổng cung và tổng cầu theo 3 kịch bản như sau.  

Về phía tổng cung, với kịch bản cơ sở: các nước trên thế giới cơ bản kiểm soát được dịch bệnh trong nửa đầu năm 2021, vắc xin được đưa vào tiêm chủng như kế hoạch giúp giảm dần tình trạng lây nhiễm, khôi phục phần nào hoạt động kinh tế - xã hội tại các nước; căng thẳng thương mại và bất ổn địa chính trị lắng dịu hơn tạo tiền đề khôi phục thương mại và đầu tư toàn cầu. Còn tại Việt Nam, dịch bệnh tiếp tục được khống chế, môi trường kinh tế vĩ mô tiếp tục duy trì ổn định, nền kinh tế tăng trưởng theo xu hướng xanh, bền vững hơn trên nền tảng đổi mới sáng tạo, quá trình cơ cấu lại được thúc đẩy triển khai, thu hút vốn đầu tư (cả trong và ngoài nước) hồi phục tạo cơ sở để nền kinh tế tăng trưởng tích cực.

Theo kịch cơ sở này, tăng trưởng GDP Việt Nam năm 2021 có thể đạt 6,5-7% với động lực chính là: (i) ngành nông-lâm-thủy sản tăng trưởng khoảng 3-3,5%, đóng góp khoảng 1,03 điểm % trong mức tăng trưởng chung; (ii) ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8-8,5% (đóng góp 1,43 điểm % trong mức tăng trưởng chung) và xây dựng tăng 8,5-9% (đóng góp mức 0,48 điểm %); (iii) lĩnh vực dịch vụ tiếp tục phục hồi, tăng trưởng từ 8-8,4% (đóng góp khoảng 2,7 điểm %) nhờ: (a) việc kiểm soát tốt dịch bệnh cùng môi trường vĩ mô được duy trì ổn định sẽ là yếu tố đảm bảo cho hoạt động thương mại và dịch vụ (trong nước) tiếp tục tăng tốt; (b) xu hướng chuyển đổi số cùng chính sách thúc đẩy mô hình kinh tế mới (kinh tế ban đêm, vui chơi có thưởng gắn với du lịch…) tạo điều kiện thúc đẩy các ngành dịch vụ, du lịch, thương mại điện tử…; (c) quá trình đô thị hóa tiếp tục diễn ra mạnh mẽ thúc đẩy dịch vụ phát triển, đặc biệt là tại các đô thị lớn như TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội.

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục được chú trọng phát triển, do: (i) định hướng phát triển công nghiệp của Đảng và Nhà nước, tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp chế tạo, công nghệ cao, công nghiệp phụ trợ; (ii) đóng góp của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đối với hoạt động xuất khẩu ngày càng tăng (tỉ trọng hàng hóa xuất khẩu qua chế biến trong tổng giá trị xuất khẩu tăng từ 65% năm 2016 lên 85% năm 2020); (iii) năng suất lao động tăng nhờ được tăng cường đổi mới công nghệ, lao động được đào tạo, quá trình chuyển đổi số, tự động hóa ngày càng được áp dụng rộng rãi hơn; (iv) xu hướng tăng trưởng xanh, trong đó hướng tới sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng và nguồn tài nguyên thiên nhiên tạo động lực cho các ngành công nghiệp mở rộng đầu tư, áp dụng công nghệ mới nâng cao năng suất lao động và đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường; (v) nguồn vốn FDI đối với lĩnh vực chế biến, chế tạo vẫn tăng trong mấy năm qua, cũng là tiền đề cho đà tăng trưởng ít nhất là đến 2025.

Ngành xây dựng dự kiến tăng trưởng tích cực nhờ: (i) định hướng tiếp tục thúc đẩy đầu tư công, phát triển cơ sở hạ tầng của Chính phủ; (ii) thị trường bất động sản hồi phục nhờ lãi suất duy trì ở mức thấp kích thích nhu cầu mua nhà ở của người dân; (iii) quá trình dịch chuyển đầu tư và chuỗi cung ứng toàn cầu tiếp tục tìm đến các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, làm gia tăng nhu cầu xây dựng nhà xưởng, khu công nghiệp.

Với kịch bản tích cực, các nước trên thế giới cơ bản kiểm soát được dịch bệnh trong quý 1/2021, vắc xin được nhanh chóng đưa vào tiêm chủng giúp giảm tình trạng lây nhiễm, tạo điều kiện sớm khôi phục hoạt động kinh tế - xã hội tại các nước, hoạt động thương mại và đầu tư toàn cầu phục hồi tích cực. Tại Việt Nam, dịch bệnh tiếp tục được kiểm soát tốt; kinh tế vĩ mô duy trì ổn định; các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế được nhanh chóng ban hành và triển khai; quá trình cơ cấu lại, chuyển đổi số được thúc đẩy; thu hút đầu tư trong và ngoài nước hồi phục...v.v. Khi đó, tăng trưởng GDP năm 2021 của Việt Nam có thể đạt 7,5-8%.

Với kịch bản tiêu cực, tới cuối năm 2021 dịch bệnh mới cơ bản được kiểm soát một phần, vắc xin chậm đưa vào tiêm chủng, quá trình phục hồi tại các nước khó khăn, hoạt động thương mại và đầu tư toàn cầu chỉ phục hồi nhẹ. Tại Việt Nam, dịch bệnh mặc dù được khống chế, các chính sách sách hỗ trợ DN, quá trình tái cơ cấu, chuyển đổi số được thúc đẩy nhưng thương mại và thu hút vốn FDI phục hồi chậm. Khi đó, kinh tế Việt Nam năm 2021 chỉ có thể tăng trưởng 4-4,5%.

Động lực và kịch bản tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2021 - Ảnh 2.

Theo hướng tổng cầu, theo Nhóm tác giả, xuất khẩu, đầu tư và tiêu dùng tiếp tục là động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế trong năm 2021. Trong bối cảnh dịch Covid-19 còn diễn biến phức tạp, nhưng cơ bản sẽ được kiểm soát tốt hơn và với quyết tâm thực hiện mục tiêu kép, tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2021 được dự báo theo 3 kịch bản sau.

Động lực và kịch bản tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2021 - Ảnh 3.

- Với kịch bản cơ sở, tăng trưởng GDP năm 2021 có thể đạt 6,5-7% với động lực từ cả xuất khẩu, đầu tư và tiêu dùng. Theo đó, hoạt động xuất khẩu tăng trưởng nhờ: (i) quá trình hội nhập quốc tế tiếp tục được thúc đẩy với việc triển khai các FTA đã ký kết và có hiệu lực (nhất là CPTPP, EVFTA, UKVFTA và chuẩn bị hiệu lực của RCEP). Các lĩnh vực xuất khẩu vốn là thế mạnh của Việt Nam như sản phẩm điện tử, điện thoại, dệt may, da giày, nông sản… sẽ tiếp tục tăng khá với hàm lượng giá trị tăng cùng với sự phục hồi mạnh hơn của khu vực kinh tế tư nhân; (ii) hoạt động đầu tư và thương mại toàn cầu hồi phục tốt hơn sau dịch bệnh và chính sách thương mại hợp lý hơn được Tổng thống Biden của Mỹ; (iii) xu hướng phát triển xanh, nâng cao chất lượng sản phẩm của các DN giúp hàng xuất khẩu của Việt Nam tăng tính cạnh tranh trên thị trường thế giới. Trong năm 2021, xuất khẩu của Việt Nam ước tăng 6-8% so với năm 2020, cán cân thương mại thặng dư từ 15-17 tỷ USD. Xuất khẩu dự kiến đóng góp 0,39 điểm % trong mức tăng trưởng chung của Việt Nam.

Đối với hoạt động đầu tư, trong bối cảnh dòng vốn FDI toàn cầu dự kiến sẽ chỉ tăng trưởng ở mức "vừa phải’’ (khoảng từ 5-10%) năm 2021, thu hút FDI của Việt Nam vẫn có một số lợi thế: (i) các FTA có hiệu lực, tiếp tục xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng; (ii) chính trị, môi trường vĩ mô ổn định, an toàn y tế; (iii) thể chế, môi trường kinh doanh tiếp tục được cải thiện trong bối cảnh thúc đẩy thực hiện Nghị quyết 50 của Bộ Chính trị về thu hút FDI. Dự báo vốn FDI thực hiện đạt 21-23 tỷ USD, tăng 5-7% so với năm trước và tương đương năm 2019 (6,7%). Ở trong nước, vốn đầu tư tư nhân sẽ phục hồi tích cực hơn nhờ triển vọng tăng trưởng kinh tế tích cực và mặt bằng lãi suất ở mức thấp thúc đẩy DN đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh; (iv) cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại DN tiếp tục được thực hiện giúp khu vực tư nhân tiếp cận, đầu tư và sử dụng hiệu quả hơn các nguồn lực của nền kinh tế; (v) đầu tư công tiếp tục được đẩy mạnh (theo tính toán của TCTK, khi giải ngân vốn đầu tư công tăng 1% sẽ giúp GDP tăng trưởng thêm 0,06 điểm %). Năm 2021, dự kiến đầu tư sẽ đóng góp 2,41 điểm % trong mức tăng trưởng chung.

Tiêu dùng tiếp tục là động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế nhờ: (i) hoạt động sản xuất, kinh doanh hồi phục dẫn tới việc làm và thu nhập của người dân được cải thiện, có tiền chi tiêu nhiều hơn; (ii) sự nổi lên của tầng lớp trung lưu khiến nhu cầu hàng hóa, dịch vụ chất lượng cao tăng lên; (iii) các chính sách thuế, phí, khuyến mại tiêu dùng trong nước tiếp tục được Chính phủ, DN triển khai nhằm kích cầu, thúc đẩy phát triển thị trường trong nước; (iv) lãi suất duy trì ở mức thấp kích thích người dân sử dụng tín dụng tiêu dùng để mua sắm hàng hóa, dịch vụ; (v) định hướng triển khai các chính sách kích cầu, phục hồi du lịch nội địa của Chính phủ (Nghị quyết 01/NQ-CP); (vi) quá trình chuyển đổi số, phát triển kinh tế số thúc đẩy thương mại điện tử, tiêu dùng số…v.v. Quy mô tiêu dùng cá nhân (bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng) của Việt Nam năm 2021 ước đạt 234 tỷ USD (tăng 7% so với năm 2020), tương đương 81% GDP. Năm 2021, tiêu dùng dự kiến đóng góp 0,53 điểm % trong mức tăng trưởng chung.

- Trong điều kiện kịch bản tích cực như nêu trên, tăng trưởng GDP Việt Nam năm 2021 có thể đạt 7,5-8% với các động lực chính là xuất khẩu (tăng 10-12%), vốn đầu tư (tăng 5-6%), tiêu dùng (tăng 10-11%) và chi tiêu của chính phủ (tăng 2-2,5%).

- Trong điều kiện kịch bản tiêu cực, tăng trưởng GDP Việt Nam năm 2021 chỉ đạt 4-4,5% với xuất khẩu chỉ tăng 4-5%, vốn đầu tư tăng 4,5-5% và tiêu dùng tăng 2-3% và chi tiêu của Chính phủ chỉ tăng 1-2%.

Như vậy, trong năm 2021, động lực tăng trưởng chính đến từ cả ba khu vực (nông-lâm-thủy sản, công nghiệp chế biến, chế tạo và một số lĩnh vực dịch vụ) cũng như đến từ cỗ xe tam mã (xuất khẩu, đầu tư và tiêu dùng). Trong trung và dài hạn, các động lực tăng trưởng chính sẽ ngày càng được củng cố nhờ quá trình chuyển đổi số, đầu tư phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo góp phần nâng cao năng suất, chất lượng của nền kinh tế. 

Động lực và kịch bản tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2021 - Ảnh 4.

Một số khuyến nghị nhằm thực hiện được mục tiêu kép trong năm 2021:

Một là, cần tiếp tục thực hiện mục tiêu kép, trong đó nhiệm vụ phòng chống dịch Covid-19 hiệu quả vẫn là ưu tiên hàng đầu, bởi đó cũng là điều kiện tiên quyết đảm bảo phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội. Theo đó, cần tính toán phương án tối ưu, không chủ quan, lơ là chống dịch, nhưng cũng không quá hoang mang, sợ hãi đến mức luôn phong tỏa, bế quan, tỏa cảng dẫn đến ách tắc mọi hoạt động kinh tế - xã hội. Các bộ, ngành, địa phương cần nghiêm túc thực hiện Chỉ thị 05 ngày 28/1/2021 và Nghị quyết 01, 02 của Chính phủ.

Hai là, nâng cao hiệu quả hội nhập nhằm thúc đẩy xuất khẩu, thu hút và sàng lọc nguồn vốn FDI có chất lượng: (i) thực thi hiệu quả nhằm tận dụng các cơ hội từ các FTA thế hệ mới; (ii) thực thi hiệu quả những định hướng, mục tiêu, giải pháp tại Nghị quyết 50 (2019) của Bộ Chính trị về định hướng, sàng lọc thu hút FDI đến năm 2030; (iii) tiếp tục đẩy mạnh cải thiện thực chất môi trường đầu tư - kinh doanh; (iv) đẩy mạnh cải cách thể chế theo các cam kết hội nhập; (v) thực thi chiến lược đa dạng hóa thị trường và đối tác (cả thương mại và đầu tư) nhằm hạn chế tối đa việc phụ thuộc quá nhiều vào một hoặc một vài thị trường hay đối tác.

Ba là, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân và đầu tư công, góp phần tăng trưởng kinh tế và tạo nền tảng phát triển lâu dài. Theo đó, (i) cần khuyến khích tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm và năng lực DN; (ii) tiếp tục cải cách mạnh mẽ và thực chất môi trường đầu tư - kinh doanh, tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng; (iii) tiếp tục thúc đẩy giải ngân đầu tư công (gồm cả vốn ODA) như là một giải pháp để hỗ trợ nền kinh tế phục hồi sau dịch Covid-19 và tạo nền tảng phát triển lâu bền (cần lưu ý tính hiệu quả và thực chất của việc giải ngân đầu tư công).

Bốn là, tập trung cơ cấu lại nền kinh tế và khai thác thị trường nội địa, trong đó ưu tiên phát triển công nghiệp hỗ trợ như đã nêu tại Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 1/1/2021 nhằm làm chủ một số yếu tố đầu vào vừa là hạn chế nhập khẩu, vừa tăng tính chủ động trong nhiều tình huống khác nhau, vừa tạo việc làm và tăng khả năng kết nối giữa các khối doanh nghiệp. Bên cạnh đó, cần có chính sách ưu đãi (giảm thuế, phí…) để phát triển sản xuất và thương mại trong nước nhằm thúc đẩy thị trường nội địa.

Năm là, không sớm rút lại các gói hỗ trợ hiện tại, đồng thời đẩy nhanh tiến độ triển khai tiêm vắc xin tại Việt Nam. Theo đó, cần tiếp tục xây dựng, hoàn thiện ban hành các chính sách, đẩy nhanh tiến độ triển khai các gói hỗ trợ; rà soát, mở rộng và kéo dài các gói hỗ trợ (nhất là đối với các lĩnh vực chịu tác động mạnh như du lịch, hàng không…) để giúp doanh nghiệp vượt khó, cũng là nuôi dưỡng động lực phát triển kinh tế và nguồn thu ngân sách lâu dài. 

Sáu là, đẩy nhanh hoàn thiện thể chế tạo đột phá thực sự trong giai đoạn 2021-2025. Theo đó, cần hoàn thiện thể chế, ưu tiên: (i) thể chế, chính sách phát triển kinh tế số, Chính phủ và giao dịch điện tử, thanh toán điện tử; vừa là để tăng năng suất lao động, vừa là theo kịp xu thế và giảm rủi ro lây lan dịch bệnh do tương tác trực tiếp; trong đó, ưu tiên hoàn thiện hành lang pháp lý đối với các mô hình kinh doanh mới và cơ sở dữ liệu quốc gia (cá nhân và doanh nghiệp); (ii) ban hành các văn bản (nghị định, thông tư hướng dẫn) các Luật đã được ban hành và có hiệu lực từ năm 2021 như Luật chứng khoán, Luật đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật PPP…v.v. ; (ii) nghiên cứu sớm sửa đổi một số luật như Luật đất đai, Luật NHNN, Luật các tổ chức tín dụng, Luật Bảo hiểm tiền gửi.

Bảy là, phát huy thế mạnh các trụ cột, đầu tàu tăng trưởng, lan tỏa nhất là Hà Nội và TP HCM; Theo đó, Hà Nội và TP. HCM cần tiếp tục phấn đấu tăng trưởng GRDP cao gấp khoảng 1,3-1,5 lần mức tăng trưởng chung của cả nước; đi đầu trong việc phát triển các lĩnh vực dịch vụ, du lịch, giáo dục - đào tạo, y tế, CNTT và viễn thông, tài chính – ngân hàng, bất động sản… từ đó tạo động lực, lan tỏa thúc đẩy tăng trưởng của các địa phương khác. Bên cạnh đó, cũng cần phát huy nội lực của các địa bàn động lực có nhiều tiềm năng tăng trưởng như Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ, Quảng Ninh, Bình Dương, Đồng Nai…v.v.

Tám là, xây dựng và ban hành các chính sách khuyến khích phục hồi, tăng trưởng xanh nhằm tăng trưởng bền vững hơn và ứng phó với biến đổi khí hậu (gây thiệt hại cho Việt Nam khoảng 5-8% GDP/năm, theo WB). Theo đó, cần thực hiện: (i) Ưu tiên đầu tư cho năng lượng sạch hơn, hoặc hỗ trợ có điều kiện cho các doanh nghiệp cắt giảm mạnh lượng thải, đặc biệt là trong các ngành có lương phát thải lớn, thâm dụng tài nguyên; (ii) Ưu tiên tài trợ và ưu đãi thuế cho giao thông và vận tải bền vững, xử lý nước, quản lý rác thải, kinh tế tuần hoàn, đầu tư phát triển dịch vụ và trang thiết bị y tế, năng lượng tái tạo; (iii) xây dựng và ban hành các chính sách khuyến khích sử dụng hiệu quả hơn các yếu tố tài nguyên như đất đai, nước, không khí, giảm mức tiêu thụ năng lượng trên một đơn vị GDP, quản lý và xử lý chất thải hiệu quả; (iv) nâng cao năng lực quản lý môi trường của Chính phủ và chính quyền địa phương thông qua việc xây dựng và thực thi một cách có hiệu quả, minh bạch các quy định pháp lý về môi trường; (v) Rà soát, cập nhật chương trình, đề án phát triển ĐBSCL gắn với ứng phó biến đổi khí hậu; đề án phòng chống lũ lụt, sạt lở, ngập úng tại Miền Trung, TP.HCM cũng như chương trình giảm ô nhiễm môi trường tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM và 1 số địa phương khác. 

Cuối cùng, coi tăng năng suất là chìa khóa phát triển nhanh và bền vững. Báo cáo triển vọng kinh tế thế giới năm 2021 của WB nhấn mạnh chính sách khôi phục kinh tế sau đại dịch cần ưu tiên cho giáo dục, đầu tư phát triển nguồn nhân lực, phát triển KHCN nhằm nâng cao năng suất, thúc đẩy tăng trưởng. Trong bối cảnh nguồn lực lao động, vốn đầu tư bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch Covid-19, càng rất cần tập trung tăng năng suất. Theo đó, các Bộ, ngành, địa phương cần sớm triển khai các giải pháp nhằm đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, đổi mới sáng tạo như tinh thần của Nghị quyết 01, 02 và Quyết định 36 (ngày 11/1/2021) của Chính phủ về Kế hoạch tổng thể nâng cao năng suất dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2021–2030.


Thanh Bình (ghi theo Báo cáo của Nhóm tác giả)

Theo Doanh nghiệp và Tiếp thị

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên