Citigroup cho đến nay vẫn là một ngân hàng mạnh hàng đầu thế giới, tổng trị giá tài sản vẫn vào khoảng 2.000 tỉ đô la. Nhưng so với tổng thị giá chừng 274 tỉ đô la vào cuối năm 2006, sau khi giá cổ phiếu sụt giảm không phanh, đến cuối tuần trước, giá trị trên thị trường chứng khoán của tập đoàn ngân hàng này chỉ còn chừng 20,5 tỉ đô la!
Đến thứ Sáu (22-11) giá cổ phiếu Citigroup sụt còn 3,77 đô la, một mức không ai ngờ nổi khi cách đây một năm mỗi cổ phiếu này có giá chừng 55 đô la.
Khủng hoảng làm đậm thêm điểm yếu cố hữu
Tờ Telegraph của Anh, trong bài nhận định mang tựa đề “Citigroup là một ví dụ cổ điển về việc nỗi sợ hãi có thể phá hủy một thể chế như thế nào” đã bình luận lẽ ra với tài sản, quy mô và triển vọng hiện có, Citigroup dư sức vượt qua khủng hoảng. Sự tấn công của giới đầu cơ đối với Citigroup là quá rõ nhưng cũng do tình trạng thiếu sự rõ ràng trong môi trường chính trị ở Washington và các sai lầm của các biện pháp giải cứu trước đó.
“Thị trường... không còn định giá ngân hàng bằng các thước đo chính thống. Thay vào đó, người ta dùng công cụ đánh giá cổ phiếu dựa trên yếu tố sợ hãi” - bài báo viết.
Mới cách đây hai tháng, Citigroup vẫn còn trụ vững trên đống đổ nát Wall Street vì lúc đó Citigroup còn toan tính mua lại ngân hàng Wachovia. Tờ New York Times cho biết lúc Wachovia gần sụp đổ, chính phủ Mỹ hối hả tìm mọi cách môi giới cho Citigroup mua lại ngân hàng lớn thứ tư này của Mỹ.
Trong khi Citigroup mạnh về bán sỉ, Wachovia mạnh về bán lẻ - một cuộc sáp nhập như thế sẽ tăng cường sức mạnh của Citigroup, bổ sung loại vốn huy động của dân cư rất ổn định vào bảng cân đối tài sản lúc đó đã có dấu hiệu xấu đi của Citigroup.
Do khủng hoảng địa ốc, Citigroup cũng phải “trích dự phòng rủi ro” (thật ra, bên Mỹ là phải chỉnh lại giá cho đúng với giá thị trường) cho các khoản nợ thế chấp khó đòi cũng như những chứng khoán đang giảm giá.
Nếu mua được Wachovia, lúc đó tài sản có chừng trên 300 tỉ đô la, tài sản này (thuộc loại tiền gửi) lại được bảo hiểm gần như toàn bộ thì tình hình tài chính Citigroup đã mạnh hẳn lên. Cái dở của Citigroup là rất chậm chạp, cuối cùng Ngân hàng Well Fargo nhảy vào, kiện tụng đòi mua với giá cao hơn. Citigroup rút lui và sự xuống dốc của ngân hàng này bắt đầu.
Chỉ trong vòng ba ngày tuần trước, thị giá của Citigroup mất hơn một nửa trong khi các lời đồn đoán cứ thúc đẩy nhà đầu tư bán tống cổ phiếu ngân hàng này - nào là cần phải được Chính phủ Mỹ cứu, nào là bán từng phần hay toàn bộ ngân hàng hay bị ép phải sáp nhập vào ngân hàng khác. Tuyên bố cắt giảm đến 52.000 nhân viên càng thúc đẩy quá trình suy sụp này diễn ra nhanh hơn.
Trong tình hình đó, những nỗ lực chặn đà sút giảm giá cổ phiếu như chuyện ông hoàng Ả Rập Walid bin Talal cam kết nâng phần hùn trong Citigroup từ 4% lên 5% không có mấy tác dụng.
Citigroup cũng vận động mạnh để chính phủ Mỹ tiếp tục duy trì lệnh tạm thời cấm bán khống đã hết hiệu lực vào tháng 10-2008 hay ít nhất cũng áp dụng lại quy định chỉ được bán khống khi giá cổ phiếu lên, cũng hết hiệu lực từ tháng 7-2007.
Cũng theo New York Times, vận hạn của Citigroup thật ra đã có mầm mống từ lâu khi nhiều nhà phân tích từng cho rằng tập đoàn này chưa bao giờ hoạt động hữu hiệu như một doanh nghiệp thống nhất. Các bộ phận khác nhau cứ đấu đá nhau và chuyện hứa hẹn tạo “sự đồng thuận để tăng cường năng lực cạnh tranh” chưa bao giờ đạt tới.
Meredith Whitney, một nhà phân tích, nhận xét: “Họ chưa bao giờ dùng thời gian, tiền bạc hay sức lực để tích hợp mọi việc kinh doanh. Vì thế bộ phận kinh doanh thẻ tín dụng nói tiếng Quan Thoại trong khi bộ phận cho vay thế chấp nói tiếng Quảng Đông”.
Những vấn đề này được che khuất trong thời kỳ tín dụng bùng nổ nhưng khi xảy ra khủng hoảng toàn diện, sự rời rạc của Citigroup càng lộ rõ hơn bao giờ hết. Michael Mayo, nhà phân tích của Deutsche Bank, cho rằng những vấn đề Citigroup phải đối diện không mới, chúng chỉ trầm trọng lên thôi.
Sự trầm trọng đó khởi đầu với việc Bộ trưởng Tài chính Mỹ Henry Paulson tuyên bố không mua tài sản xấu của ngân hàng như Citigroup nữa. Mặc dù kế hoạch này không có hiệu quả, dù sao cam kết mua lại trước đây của Paulson cũng giúp trấn an được nhà đầu tư. Từ đầu năm đến nay Citigroup lỗ tổng cộng 20 tỉ đô la.
Chính phủ Mỹ phải ra tay cứu
Đến đầu tuần này, sau những ngày thương lượng căng thẳng cuối tuần, chính phủ Mỹ đã chính thức công bố gói giải cứu Citigroup bằng cách bảo lãnh cho 306 tỉ đô la tài sản xấu, chủ yếu là các hợp đồng mua nhà thế chấp dưới chuẩn.
Theo thỏa thuận bảo lãnh, Citigroup sẽ chịu mọi khoản lỗ trong danh mục vay này với mức nhiều nhất là 29 tỉ đô la, ngoài các khoản dự phòng của Citigroup; các cơ quan Chính phủ sẽ chịu trách nhiệm với 90% các khoản lỗ trên mức ấy và Citigroup chịu phần 10% còn lại. Thời gian bảo lãnh sẽ kéo dài 10 năm với các tài sản nhà ở và năm năm đối với các tài sản khác.
Theo Bloomberg, Bộ Tài chính Mỹ, phối hợp cùng Cục Dự trữ liên bang (FED) và Cơ quan bảo hiểm tiền gửi liên bang (FDIC) cũng sẽ bỏ ra thêm 20 tỉ đô la, bên cạnh 25 tỉ đô la đã bơm trước đó cho ngân hàng này thông qua chương trình giải quyết tài sản xấu (TARP).
Đổi lại, Chính phủ Mỹ sẽ có 7,8% cổ phần trong Citigroup. Citigroup sẽ phát hành ngay 7 tỉ đô la cổ phiếu ưu đãi, với mức cổ tức 8%/năm để chi trả cho việc bảo lãnh nói trên.
Ngoài ra Bộ Tài chính và FDIC có quyền mua thêm 254 triệu cổ phiếu thường ở mức giá 10,61 đô la/cổ phiếu, có nghĩa nếu giá cổ phiếu Citigroup phục hồi, gói giải cứu sẽ đem lại lợi nhuận chứ chưa hẳn là mất tiền của người dân đóng thuế.
Citigroup cũng đã đồng ý không trả cổ tức hàng quí nhiều hơn 0,01 đô la (1 xu) mỗi cổ phiếu trong vòng ba năm kể từ lần chia cổ tức hàng quí sắp tới.
Đây là giải pháp được thị trường dự đoán sẽ phải diễn ra vì nếu Citigroup sụp đổ, hậu quả cho nền tài chính Mỹ là khó lường hết. Khác với các lần giải cứu trước, Chính phủ Mỹ không yêu cầu thay đổi nhân sự ban giám đốc Citigroup nhưng sẽ ấn định mức lương thưởng của ban giám đốc. Đúng như dự đoán, trong phiên giao dịch ngày thứ Hai (24-11), giá cổ phiếu của Citigroup phục hồi ngoạn mục đến 60%.
Theo Vân Cầm
TBKTSG