Từ quy hoạch đến thực tiễn phát triển đô thị
Đô thị hóa là con đường tất yếu của phát triển kinh tế. Nhưng đô thị hóa không đơn giản là mở rộng địa giới, tăng diện tích đất xây dựng, xây thêm nhà cao tầng hay làm thêm đường sá. Điều quan trọng là tổ chức không gian dân cư, sản xuất, dịch vụ và hạ tầng sao cho người dân có việc làm, có nhà ở phù hợp, đi lại thuận tiện và được sống trong môi trường tốt.
Nhân ngày Đô thị Việt Nam 8/11, chuyên gia Đô thị TS, KTS. Nguyễn Đình Toàn - nguyên Thứ trưởng Bộ Xây Dựng, nguyên Viện trưởng Viện Kiến trúc, Quy hoạch đô thị và nông thôn Bộ Xây dựng - có những chia sẻ về quy hoạch đến thực tiễn phát triển đô thị.
Chuyên gia Đô thị TS.KTS Nguyễn Đình Toàn nguyên Thứ trưởng Bộ Xây Dựng, nguyên Viện trưởng Viện Kiến trúc, Quy hoạch đô thị và nông thôn Bộ Xây Dựng.
Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới với nền kinh tế tăng trưởng, các vùng được kết nối mạnh hơn, địa giới hành chính đã thay đổi và mô hình chính quyền địa phương chuyển sang hai cấp. Đây là thời điểm cần nhìn lại cách làm quy hoạch và lựa chọn hướng phát triển đô thị cho những năm tới.
Bài học từ thế giới
Tây Âu đã trải qua gần hai thế kỷ đô thị hóa. London, Paris, Berlin phát triển nhanh nhờ công nghiệp hóa, nhưng cũng phải đối mặt với ô nhiễm, đô thị chật chội và giao thông quá tải. Sau đó, họ đầu tư lâu dài vào giao thông công cộng, hệ thống cấp thoát nước, công viên và đặc biệt đã có các đô thị mới bên ngoài trung tâm.
Paris là ví dụ đáng nghiên cứu. Các đô thị mới như Cergy-Pontoise, Marne-la-Vallée không chỉ có nhà ở mà còn có việc làm, trường học, thương mại và dịch vụ. Người dân có thể sinh sống, làm việc tại đó mà không phải ngày nào cũng đi vào trung tâm Paris.
Nhật Bản và Hàn Quốc có kinh nghiệm phát triển đô thị gắn với đường sắt. Tokyo tổ chức giao thông bằng mạng lưới đường sắt đô thị và liên vùng quy mô lớn, kết hợp đường cao tốc trên cao, đường ngầm và nút giao khác mức. Quảng Châu của Trung Quốc cũng sử dụng hệ thống đường nhiều tầng, metro và các tuyến vành đai để đáp ứng lưu lượng phương tiện lớn.
Giao thông đa tầng tại Quảng Châu, Trung Quốc.
Trung Quốc đã tăng tỷ lệ đô thị hóa từ khoảng 20,6% năm 1982 lên 63,8% năm 2020. Tốc độ xây dựng hạ tầng rất nhanh, nhưng cũng để lại những vấn đề về dư thừa bất động sản, nợ địa phương và hiệu quả sử dụng đất.
Bài học đối với Việt Nam là phải xác định việc làm, giao thông và dịch vụ đồng thời với nhà ở. Không thể chỉ xây khu đô thị rồi chờ người dân và hoạt động kinh tế tự tìm đến.
Việt Nam nên phát triển theo hướng nào?
Việc tổ chức mạng lưới đô thị theo các vùng kinh tế, gắn với lợi thế của từng địa phương phải được coi là ưu tiên hàng đầu. Các tỉnh xây khu đô thị, khu công nghiệp và trung tâm thương mại theo đặc thù vị trí, đảm bảo tính kết nối trong mạng lưới đô thị chung trong cả vùng, cần hình thành các hành lang phát triển liên kết với Hà Nội:
Thái Nguyên, Bắc Ninh cần có những đô thị đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp công nghệ cao, điện tử.
Phú Thọ, Hòa Lạc, Lương Sơn: Phát triển đô thị sinh thái, giáo dục, nghiên cứu, du lịch, nghỉ dưỡng và công nghiệp sạch phù hợp.
Hành lang Hà Nội - Hải Phòng theo trục 5B: phát triển công nghiệp, logistics, cảng biển, thương mại và dịch vụ liên vùng. Hình thành các đô thị dọc tuyến gắn với khu công nghiệp, đầu mối vận tải và việc làm, không chỉ là nơi ở của người đến làm việc.
Hà Nam, Ninh Bình phát triển công nghiệp, logistics, dịch vụ và du lịch văn hóa. Ninh Bình cần kiểm soát xây dựng, bảo vệ vùng sinh thái, không đánh đổi cảnh quan lấy các dự án bất động sản ngắn hạn.
Vòng xuyến lối ra cao tốc Hà Nội - Hải Phòng kết nối xuống Khu Kinh tế Đình Vũ - Cát Hải và hệ thống cảng biển Hải Phòng vắng xe tải, container. Ảnh: Nguyễn Hoàn.
Đó là định hướng liên kết vùng, không có nghĩa tất cả các khu vực đều phải trở thành đô thị xây dựng dày đặc. Mỗi địa phương cần chọn chức năng kinh tế phù hợp, tạo việc làm và dịch vụ tại chỗ.
Ở miền Trung, cần phát triển các đô thị ven biển gắn với cảng biển, du lịch, công nghiệp và dịch vụ, đồng thời bảo vệ cảnh quan và nguồn nước. Tổ chức lại không gian kinh tế TP.HCM - Bình Dương - Bà Rịa Vũng Tàu, kết nối công nghiệp, cảng biển, logistics và dịch vụ. Các trung tâm hành chính, y tế, giáo dục phải được phân bố lại để người dân không phải đi quá xa về khu vực trung tâm cũ.
Chính quyền hai cấp: quy hoạch và quản lý đô thị ở cấp Phường?
Trước đây, Phường trực thuộc thành phố hoặc quận, giữa Phường và cấp tỉnh còn có cấp chính quyền đô thị trung gian, đảm nhiệm việc điều phối quy hoạch, xây dựng và hạ tầng trên địa bàn nhiều phường. Nay các Phường trực thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Vậy việc tổ chức quy hoạch và điều phối không gian giữa các Phường sẽ được thực hiện như thế nào?
Có nên lập quy hoạch chung cho từng Phường hay không? Nếu mỗi Phường tự lập quy hoạch riêng thì giao thông, thoát nước, cây xanh, trường học và các công trình hạ tầng kết nối giữa các phường sẽ được giải quyết ra sao? Một tuyến đường đi qua ba phường không thể có ba phương án độc lập.
Cần làm rõ thẩm quyền ở từng cấp. Tỉnh, thành phố phải chịu trách nhiệm về cấu trúc đô thị toàn địa bàn, các tuyến giao thông chính, hạ tầng đầu mối và công trình liên phường.
Những việc nào Phường được chủ động quyết định, việc nào phải trình tỉnh? Cơ quan nào chịu trách nhiệm khi điều chỉnh quy hoạch ở phường này ảnh hưởng đến phường kế bên? Đây là những vấn đề cần được quy định cụ thể, tránh chia cắt quy hoạch theo địa giới hành chính trong khi đô thị là một không gian liên tục.
Giao thông: Phải giải quyết cả hành lang, không chỉ từng cây cầu
Hà Nội là ví dụ rõ về việc phát triển đô thị và giao thông chưa luôn đi cùng nhau. Trục Cổ Linh là tuyến huyết mạch tiếp nhận và phân phối phương tiện từ phía Đông qua ba cầu Chương Dương, Trần Hưng Đạo và Vĩnh Tuy. Lưu lượng hiện nay đã lớn, trong khi các khu đô thị phía Đông và những hướng kết nối liên vùng tiếp tục phát triển.
Dòng xe ken đặc ở tuyến đường Cổ Linh, Đàm Quang Trung. Ảnh: Duy Phạm
Cần nghiên cứu tổ chức lại toàn bộ hành lang giao thông phía Đông. Tại những đoạn có lưu lượng lớn thường xuyên ách tắc như Cổ Linh cần xem xét mô hình đường hai tầng, kết hợp giữa đường trên cao với đường dưới mặt đất để tách dòng xe đi xuyên suốt khỏi dòng xe ra vào khu dân cư. Đây là cách tổ chức đã được Tokyo và Quảng Châu áp dụng tại những khu vực có mật độ giao thông cao.
Hành lang đường dọc đê Sông Hồng đường Nguyễn Khoái dẫn vào nội đô cũng cần được nghiên cứu nâng cấp theo hướng tương tự với giải pháp phù hợp, cần đặc biệt chú ý nút giao cầu Trần Hưng Đạo phải phân bố giao thông lên xuống cầu hợp lý không để gây ách tắc khi cầu đi vào vận hành.
Cầu Chương Dương cần khảo sát phương án tăng năng lực lưu thông, kể cả khả năng mở rộng quy mô mặt cầu lên gấp đôi hiện nay, cùng với đó phải nghiên cứu kết cấu, tĩnh không thông thuyền và hành lang và nút giao hai đầu cầu.
Ở quy mô quốc gia, cần ưu tiên đường sắt liên vùng, đường sắt đô thị, các tuyến vành đai và đầu mối logistics. Xe container, xe tải quá cảnh phải được tổ chức theo tuyến và khung giờ phù hợp, hạn chế đi xuyên qua khu vực dân cư đông đúc.
Nhà ở, việc làm và môi trường
Một khu đô thị không thể chỉ được đánh giá bằng số căn hộ đã xây. Phải xem người dân có trường học, bệnh viện, công viên, phương tiện công cộng và việc làm ở có đúng quy chuẩn hay không? Nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê, nhà ở công nhân và nhà ở cho người thu nhập trung bình cần được bố trí gần khu công nghiệp, nơi làm việc và các tuyến giao thông công cộng.
Tuyến đường Lương Định Của ngập nước kéo dài trong những ngày vừa qua. Ảnh: Khoa Nam.
Muốn giảm áp lực cho Hà Nội và TPHCM, phải chuyển được một phần việc làm, trường đại học, bệnh viện, cơ sở nghiên cứu và dịch vụ ra các trung tâm mới. Đặc biệt là việc quy hoạch các đô thị mới kéo dãn sức chịu tải dân số và hạ tầng trong nội đô.
Môi trường phải là điều kiện đầu vào của quy hoạch. Theo dữ liệu Liên hợp quốc, tỷ lệ dòng nước thải sinh hoạt được xử lý an toàn ở Việt Nam năm 2024 mới khoảng 40,8%. Đây là vấn đề cần được ưu tiên giải quyết.
Quản lý đô thị bằng dữ liệu số và AI
Đô thị hiện đại không thể chỉ quản lý bằng hồ sơ giấy và những bản vẽ lưu ở nhiều cơ quan. Cần xây dựng cơ sở dữ liệu thống nhất về quy hoạch, đất đai, dân cư, nhà ở, giao thông, cấp thoát nước và môi trường.
Người dân phải tra cứu được thông tin quy hoạch và tình trạng pháp lý của thửa đất. Cơ quan quản lý cần theo dõi được tiến độ dự án, biến động sử dụng đất và tình trạng hạ tầng.
AI có thể hỗ trợ phân tích ảnh vệ tinh để phát hiện xây dựng sai phép, dự báo ngập úng, ùn tắc và ô nhiễm; điều chỉnh tín hiệu giao thông theo lưu lượng thực tế. Các thành phố lớn có thể xây dựng mô hình đô thị số ba chiều để mô phỏng tác động của dự án mới trước khi cấp phép.
Tuy nhiên, công nghệ chỉ có giá trị khi dữ liệu chính xác, được cập nhật và có cơ quan chịu trách nhiệm. Trước mắt, nên triển khai có trọng điểm trong quản lý đất đai, quy hoạch, trật tự xây dựng, giao thông và môi trường, tránh đầu tư hệ thống đắt tiền nhưng không có dữ liệu đầy đủ để vận hành.
Trong 5-10 năm tới, cần tập trung rà soát quy hoạch, xác định các điểm nghẽn giao thông và thoát nước, hoàn thiện hạ tầng tại những khu đô thị đã hình thành, phát triển nhà ở xã hội và xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung; hình thành mạng lưới đô thị gắn với các vùng kinh tế, hành lang công nghiệp, logistics, cảng biển, du lịch và dịch vụ. Các đô thị lớn phải giảm áp lực cho khu vực trung tâm cũ; đô thị vừa và nhỏ phải có việc làm và có chức năng đô thị; nông thôn phải được kết nối với hệ thống dịch vụ thiết yếu.
Việt Nam không thiếu quy hoạch và cũng không thiếu những dự án lớn. Điều cần thay đổi là cách tổ chức thực hiện và trách nhiệm của các cấp chính quyền.
Một đô thị phát triển tốt/đáng sống/hay đạt chỉ số hạnh phúc không phải là nơi xây được nhiều nhà cao tầng hay nhiều tuyến đường nhất, mà là nơi người dân có việc làm, có nhà ở phù hợp, đi lại thuận tiện và được sống trong môi trường an toàn. Đó mới là thước đo thực chất của quá trình đô thị hóa.
Tiền phong