MỚI NHẤT!

Đọc nhanh >>

Thất nghiệp có thể trầm trọng hơn công bố

Viện Khoa học lao động và xã hội vừa công bố kết quả từ công trình nghiên cứu “Khủng hoảng kinh tế và thị trường lao động Việt Nam”.

Sự khác nhau về các con số

Viện Khoa học lao động và xã hội vừa công bố kết quả từ công trình nghiên cứu “Khủng hoảng kinh tế và thị trường lao động Việt Nam”.

Ở đó, tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Hương, viện trưởng đã công bố: nếu tăng trưởng kinh tế trong năm nay đạt từ 5 – 6%, thì số lao động bị mất việc do khủng hoảng kinh tế là 494.000 người.

Thậm chí số người mất việc sẽ tăng lên khoảng 742.000 người vào năm 2010 nếu nền kinh tế vẫn chưa thể phục hồi. Điều cần lưu ý, đây là số việc làm bị giảm đi so với khả năng tạo việc làm mới của nền kinh tế do tác động của khủng hoảng tài chính, nghĩa là chừng đó người rơi vào thất nghiệp hoàn toàn.

Cùng với viện Khoa học lao động và xã hội, tổng cục Lao động Liên bang Đức cũng công bố kết quả nghiên cứu độc lập của mình về ảnh hưởng suy thoái kinh tế đến việc làm tại Việt Nam. Tiến sĩ Uwe Blien cho rằng, năm nay Việt Nam sẽ có thêm 440.000 người thất nghiệp và khoảng 510.000 lao động bị giảm thời gian làm việc.

Trước đó, tiến sĩ Lan Hương đã nhận được nhiều phản ứng không đồng thuận từ phía bộ Lao động, thương binh và xã hội khi đưa ra phương pháp tính và số liệu này.

Con số công bố chính thức của bộ là 400.000 lao động mất việc trong hai năm 2008 – 2009, nhưng khả năng tạo việc làm mới cho số lao động này rất cao. Thậm chí, một quan chức trong bộ này còn nói: “Một bộ không thể công bố hai số liệu về cùng một vấn đề”.

Nhưng đứng trên quan điểm của một nhà khoa học, tiến sĩ Lan Hương khẳng định, năm 2008 tổng việc làm mới được tạo ra chỉ là 800.000 so với khoảng 1,3 triệu việc làm mới được tạo ra trong năm 2007.

Nhiều ngành sử dụng nhiều lao động có tốc độ tăng việc làm cao bị ảnh hưởng rõ rệt từ cuộc khủng hoảng kinh tế. Cụ thể, ngành sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy và đồ dùng cá nhân, gia đình giảm 294.000 việc làm, hoạt động văn hoá thể thao giảm 69.000 việc làm, công nghiệp chế biến giảm 100.000 việc làm, ngành thuỷ sản giảm 61.000 việc làm… Năm 2009 khả năng tạo việc làm mới nhiều nhất cũng bằng được năm 2008, khoảng 800.000 chỗ làm.

Mặc dù không bình luận về con số do bộ Lao động, thương binh và xã hội đưa ra, nhưng tiến sĩ Lan Hương cho rằng, sử dụng phương pháp chuyên gia để dự báo số người bị mất việc và số doanh nghiệp cần hỗ trợ là việc nên làm.

Từ con số ra chính sách

Rõ ràng, việc cơ quan quản lý nhà nước dự báo đúng mới có thể đưa ra được chính sách hợp lý. Năm 2008 khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu có những biểu hiện rõ rệt đối với nước ta từ quý 3, số lượng lao động bị sa thải có chiều hướng tăng lên, nhưng lúc đó, cục Việc làm (bộ Lao động, thương binh và xã hội) vẫn im tiếng.

Đến tháng 12.2008 tại hội nghị tổng kết ngành này, Thủ tướng đã chỉ đạo bộ phải nắm được số lao động mất việc và đề xuất cơ chế hỗ trợ đối với những lao động này.

Sau đó, việc xây dựng đề án hỗ trợ lao động mất việc mới bắt đầu được khởi động. Nhưng đến cuối tháng 2.2009, bộ này mới trình dự thảo quyết định hỗ trợ lao động mất việc làm trong doanh nghiệp gặp khó khăn do suy giảm kinh tế.

Theo quyết định 30 của Thủ tướng, số lao động bị mất việc do khủng hoảng kinh tế sẽ được vay vốn để tự tạo việc làm, nhưng thực tế đến nay, hầu như chưa lao động thất nghiệp nào và doanh nghiệp có sa thải lao động tiếp cận được khoản vay này.

Cục Việc làm đưa ra nhận định, số lao động được tuyển dụng mới cao, chứng tỏ số lượng lao động mất việc không nhiều, và không đáng ngại. Nhưng đây cũng chỉ là những phát biểu theo kiểu “nghe ngóng”, chứ không dựa trên các cuộc khảo sát với độ tin cậy cao.

Tại Hà Nội, chương trình cho vay với lãi suất ưu đãi theo quyết định 30 của Thủ tướng để doanh nghiệp trả lương và bảo hiểm xã hội cho người lao động mới được thực hiện thí điểm tại công ty sứ Viglacera Thanh Trì, nhưng đến nay, doanh nghiệp này vẫn chưa vay được vốn.

Chưa nói tới những “rào cản kỹ thuật” khiến các doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn này, mà bản thân các doanh nghiệp cũng không hào hứng với khoản hỗ trợ này, do thời gian vay quá ít, điều kiện được vay cao (doanh nghiệp phải sa thải 30% lao động hoặc từ 100 người trở lên).

Bên cạnh đó, đây là chính sách theo kiểu “túm người có tóc”, nghĩa là khoản nợ vẫn phải do doanh nghiệp gánh, hầu như doanh nghiệp nào cũng nói, đã đến mức phải sa thải lao động, thì thà sa thải còn hơn là gánh nợ. Trong khi đó, một số nước lại có cách xử lý khác.

Tiến sĩ Lan Hương cho biết, để giữ việc làm, Chính phủ một số nước sẵn sàng bù đắp chi phí duy trì việc làm cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp cũng trên cơ sở này có thể tăng cường điều chuyển nội bộ, đàm phán với lao động giảm thời gian làm việc để tạo cơ hội việc làm cho nhiều người khác…

Với người lao động, chính sách cho vay từ quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm trên lý thuyết là tốt, nhưng thực tế đến nay, lao động thất nghiệp cũng khó tiếp cận nguồn vốn này.

Hầu hết lao động thất nghiệp là những lao động thuộc các khu công nghiệp và là lao động nhập cư. Với những rào cản về điều kiện để vay được do ngân hàng Chính sách xã hội đặt ra, chắc chắn tới hết năm 2009 cũng không lao động thất nghiệp nào vay được vốn.

Theo Tây Giang
SGTT

thanhtu

CÙNG CHUYÊN MỤC

XEM
Trở lên trên