Việt Nam có loại “rau” mọc tự nhiên trên đá giá đắt hơn thịt bò, cứ tháng 10 cả làng chài 700 năm tuổi lại đổ ra biển phơi khô bán tới 3 triệu đồng/kg
Dưới chân đèo Hải Vân, có một làng chài lâu đời sở hữu cả ghềnh đá phủ rêu xanh, món gỏi cá trích trứ danh và nghề làm nước mắm đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đặc biệt, nơi đây còn có một món “lộc biển” chỉ xuất hiện theo mùa, người dân phải canh thủy triều rút mới có thể thu hoạch.
- 15-10-20263 công thức món ăn nhanh gọn từ loại "rau" có lượng kali gấp 15 lần chuối: Người trung niên và cao tuổi nên ăn cách ngày
- 15-10-2026Việt Nam có loại "rau trăm lớp" đang vào mùa: Cực ít thuốc trừ sâu, mỡ thừa và ung thư đều "SỢ"
- 15-10-2026Đã đến lúc TỰ CỨU LẤY GAN bằng cách ngừng ăn 5 loại rau củ mệnh danh "vua thối gan", tiếp tay cho ung thư
Nhắc đến Đà Nẵng, nhiều người thường nghĩ ngay đến những bãi biển nổi tiếng, những cây cầu bắc qua sông Hàn hay các khu nghỉ dưỡng hiện đại. Nhưng ở phía Tây Bắc thành phố, ngay nơi sông Cu Đê đổ ra vịnh Đà Nẵng và dưới chân đèo Hải Vân, vẫn có một làng chài lưu giữ nhiều dấu ấn của đời sống miền biển qua nhiều thế hệ: Nam Ô.
Theo các tài liệu du lịch địa phương, Nam Ô có lịch sử hơn 700 năm. Con số này thường được gắn với năm 1306, khi vua Chămpa Chế Mân dâng hai châu Ô, Lý làm sính lễ để cưới công chúa Huyền Trân. Người dân Nam Ô vẫn truyền nhau rằng trên đường trở về Thăng Long, công chúa từng ẩn náu trong rừng đá nơi đây. Đến nay, miếu thờ công chúa dưới chân núi Xuân Dương vẫn được người dân hai làng Nam Ô và Xuân Thiều gìn giữ, hương khói.

Người dân ở làng chài Nam Ô. Ảnh: Vietnamtourism
Điều khiến Nam Ô đáng khám phá không chỉ nằm ở tuổi đời. Làng có vị trí khá đặc biệt khi phía trước là biển, bên cạnh có sông, phía sau tựa vào núi. Những con ngõ nhỏ dẫn ra bờ biển, thuyền thúng nằm trên cát, các cơ sở làm nước mắm xen giữa khu dân cư và những ghềnh đá nhấp nhô tạo nên một khung cảnh rất khác với khu vực trung tâm Đà Nẵng.
Nam Ô cũng không đơn thuần là một điểm đến để ngắm cảnh. Nơi đây hội tụ nhiều nét văn hóa bản địa, từ nghề biển, nghề làm mắm đến những món ăn dân dã và các dấu tích lịch sử. Bởi thế, nếu muốn tìm một góc Đà Nẵng ít mang màu sắc đô thị hơn, du khách có thể dành nửa ngày để khám phá khu vực này. Và nếu ghé vào khoảng tháng 10, du khách còn có dịp chứng kiến một cảnh tượng chỉ có theo mùa: cả làng ra ghềnh đá hái mứt biển.

Cảnh đẹp trên sông Cu Đê (đoạn trên cầu Nam Ô). Ảnh: Vietnamtourism
Nước mắm Nam Ô: Nghề truyền thống được trao truyền qua nhiều thế hệ
Nhắc đến Nam Ô, thứ đầu tiên nhiều người nghĩ tới có lẽ là nước mắm. Người địa phương vẫn truyền nhau câu "Nước mắm Nam Ô, cá rô Xuân Thiều" và nước mắm nơi đây từng là sản vật tiến vua.
Nghề làm nước mắm ở đây được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2019. Đây là sự ghi nhận đối với tri thức dân gian, kỹ thuật chế biến và những kinh nghiệm được các thế hệ người làm mắm gìn giữ, truyền lại.


Trong quá trình ủ chượp sẽ cần theo dõi kỹ lưỡng để đảm bảo chất lượng thành phẩm. Ảnh: Toquoc
Điểm đặc trưng của nước mắm Nam Ô nằm ở nguyên liệu và cách ủ chượp truyền thống. Cá cơm than tươi được trộn với muối theo tỷ lệ thường được nhắc đến là 3 phần cá, 1 phần muối, sau đó đưa vào chum hoặc thùng để ủ. Muối cũng được lựa chọn và xử lý trước khi sử dụng nhằm tạo điều kiện cho quá trình lên men.
Không giống những món ăn có thể chế biến và thưởng thức ngay sau khi đánh bắt, nước mắm đòi hỏi sự kiên nhẫn. Theo các tài liệu giới thiệu nghề truyền thống, hỗn hợp cá và muối có thể được ủ khoảng 9–12 tháng, tùy cách làm và điều kiện sản xuất. Trong thời gian đó, người làm mắm phải theo dõi quá trình ủ để thành phẩm có màu sắc, hương thơm và vị đặc trưng.

Ảnh: Danangbest.com
Sau khi chượp chín, nước mắm được lọc qua dụng cụ truyền thống để thu phần nước cốt. Thành phẩm thường có màu nâu đỏ như cánh gián, mùi thơm đậm và vị mặn hòa cùng vị ngọt tự nhiên của cá.
Điều đáng chú ý là nghề mắm ở Nam Ô không chỉ được duy trì để phục vụ nhu cầu của người dân địa phương. Sản phẩm đã trở thành một thương hiệu đặc sản của Đà Nẵng, được nhiều người tìm mua làm quà. Năm 2024, sản phẩm nước mắm Nam Ô còn được cấp văn bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý, góp phần khẳng định nguồn gốc và giá trị của sản phẩm. Đây là chỉ dẫn địa lý đầu tiên của Đà Nẵng, và là một trong ba chỉ dẫn địa lý về nước mắm trên cả nước, cùng với nước mắm Phú Quốc và Phan Thiết. Trước đó rất lâu, từ năm 1958, nhãn hiệu Hồng - Hương của nước mắm Nam Ô đã được Viện Pasteur công nhận là nước mắm nguyên chất, hảo hạng.
Tuy nhiên, giữ nghề không phải chuyện dễ dàng. Nguồn cá cơm than tại chỗ có thời điểm khan hiếm, trong khi nghề làm mắm đòi hỏi vốn, thời gian và công sức. Bởi vậy, câu chuyện Nam Ô hôm nay không chỉ là giữ một hương vị truyền thống, mà còn là tìm cách để nghề cũ tiếp tục tạo sinh kế cho người dân trong bối cảnh du lịch và đô thị hóa phát triển.

Các hũ mắm được ủ hoàn toàn thủ công. Ảnh: Huonglangco
Món gỏi cá trích từng là bữa ăn của người đi biển
Nếu nước mắm là thứ làm nên danh tiếng của làng nghề, gỏi cá trích lại là món ăn khiến nhiều người tìm đến Nam Ô.
Trước đây, gỏi cá Nam Ô chủ yếu được người dân làm để ăn trong gia đình, đặc biệt là những người đi biển. Về sau, món ăn được phục vụ rộng rãi hơn và trở thành một đặc sản của Đà Nẵng. Nguyên liệu thường là cá trích tươi, được làm sạch, bỏ đầu và lọc lấy thịt. Sau đó, cá được chế biến thành hai kiểu phổ biến là gỏi khô và gỏi ướt.

Món đặc sản gỏi cá Nam Ô ngon trứ danh đã từng níu chân bao du khách
Với gỏi khô, thịt cá được làm tái bằng giấm hoặc chanh, ép ráo rồi trộn cùng thính và gia vị. Gỏi ướt lại có phần nước trộn đậm đà hơn, thường kết hợp nước mắm, gừng, tỏi, ớt và các gia vị khác. Cả hai đều có thể ăn cùng bánh tráng, rau sống và một số loại rau rừng, chuối xanh, khế hoặc xoài chua.

Món gỏi khô dùng kèm với bánh tráng cuốn tròn chắc tay, bên trong là gỏi cá, các loại rau giá tươi ngon chấm với nước chấm hấp dẫn. Ảnh: @trungbuii/Instagram
Điểm thú vị nằm ở sự kết hợp nhiều tầng hương vị: thịt cá ngọt, vị cay nồng của gừng ớt, chút chua chát của rau quả và mùi thơm của thính. Phần nước chấm cũng góp phần tạo nên nét riêng, trong đó nước mắm truyền thống của địa phương được sử dụng để tăng độ đậm đà.

Gỏi cá ướt hấp dẫn với thịt cá tươi ngọt thấm vị trong nước dùng cay đậm đà, pha chế từ nước mắm thơm ngon của làng chài Nam Ô. Ảnh: @quemidang/Instagram
Với những người thích khám phá ẩm thực bản địa, gỏi cá trích là món đáng thử khi đến Nam Ô. Tuy nhiên, đây là món ăn sử dụng cá sống hoặc cá được làm tái bằng axit từ giấm, chanh, nên việc lựa chọn cơ sở chế biến uy tín và nguyên liệu được bảo quản đúng cách rất quan trọng. Người có nguy cơ cao gặp biến chứng do thực phẩm sống nên cân nhắc lựa chọn món cá đã nấu chín.
Mứt biển: Thứ "rau" mọc tự nhiên trên đá, phơi khô đắt hơn cả thịt bò
Một trong những nét riêng ít được biết đến hơn của Nam Ô là nghề khai thác rong mứt, còn được người dân gọi là mứt biển.
Mứt biển là loại rong mọc trên các bề mặt đá ven biển. Theo báo Nhân Dân, mứt thường bắt đầu mọc vào khoảng tháng 10 dương lịch, sau mùa mưa, bám trên các vách đá sát mép nước. Khi thủy triều rút, những mảng rong lộ ra, người dân có thể mang dụng cụ ra ghềnh để thu hoạch. Công việc thường diễn ra trong điều kiện đá trơn, sóng biển và thời gian khai thác phụ thuộc vào thủy triều, vì thế không đơn giản chỉ là đi dạo ven biển rồi tiện tay hái rong.

Rong mứt mọc tự nhiên ở các rạn đá của vùng biển Nam Ô. Ảnh: Sưu tầm
Mùa rong mứt ở Nam Ô thường kéo dài từ khoảng tháng 10 đến cuối tháng 12 dương lịch. Vào mùa, có những người dân phải đi từ lúc trời còn tối, mang đèn và dụng cụ để tìm rong trên các ghềnh đá. Một người dân kể với báo Nhân Dân rằng mùa hái mứt đã có ở Nam Ô từ bao đời nay, cứ mứt mọc là "cả làng lại ra đây thu hoạch".
Người hái mứt phần lớn là phụ nữ lớn tuổi. Họ mặc quần áo bó sát, trùm kín đầu để chống gió lạnh, rồi men theo những bãi đá sắc nhọn, lởm chởm để cào từng mảng rong. Mỗi người có thể hái được khoảng 3 - 4 kg mứt tươi mỗi ngày.
Chính sự vất vả ấy khiến mứt biển có giá không hề rẻ. Mứt tươi được bán khoảng 200 - 300 nghìn đồng/kg. Sau khi rửa sạch, ép ráo và phơi khô, giá có thể lên tới 2,5 - 3 triệu đồng/kg, cao gấp nhiều lần giá thịt bò ngoài chợ, bởi phải khoảng 10 kg mứt tươi mới được 1 kg mứt khô.

Canh rong mứt vừa thơm ngon vừa bổ dưỡng. Ảnh: Cookpad
Báo Nhân Dân từng ghi lại trường hợp bà Trương Thị Lược (68 tuổi): bà ngâm mình dưới nước biển từ 5h30 đến 8h sáng mới thu được 1 kg rong tươi. Vừa mang lên bờ, số rong ấy đã được một hộ mua ngay với giá 200 nghìn đồng.
Rong sau khi thu hoạch có thể được chế biến thành món ăn, trong đó có các món canh hoặc món xào tùy cách nấu của từng gia đình. Người Nam Ô thường đem mứt hầm xương, nấu canh hoặc xào lăn. Mùa hái mứt cũng trùng với mùa cá khoai của làng. Mứt biển vì thế không chỉ là nguyên liệu ẩm thực mà còn là một sinh kế theo mùa, bổ sung thu nhập cho người dân bên cạnh nghề đánh bắt và làm mắm.

Người dân đi "săn" mứt biển. Ảnh: Dadiabeachhouse.
Nếu nước mắm là sản vật từng được tiến vua, thì mứt biển lại là thứ "lộc" mà biển chỉ trao theo mùa, dành cho những ai chịu dậy sớm và kiên nhẫn canh con nước.
Vào thời điểm mùa rong bắt đầu, Nam Ô có một cảnh tượng khá thú vị: trong khi nhiều du khách đến Nam Ô để ngắm cảnh và chụp ảnh, người dân địa phương lại ra ghềnh đá, canh con nước để tìm món quà mà biển chỉ mang đến theo mùa.


Ảnh: Google Review
Ghềnh Nam Ô: Những phiến đá và thảm rêu xanh sát mặt biển
Rời khu dân cư, du khách có thể ghé ghềnh Nam Ô, một trong những điểm tạo nên sức hút về cảnh quan của khu vực.
Nơi đây có những phiến đá lớn nhỏ nằm sát bờ, hình thù không đồng đều, xen giữa các khoảng nước biển. Vào thời điểm phù hợp, rêu xanh phủ trên bề mặt đá tạo nên một khung cảnh khá đặc biệt, tương phản với màu xanh của biển và những con sóng vỗ vào ghềnh.
Theo Cổng thông tin du lịch Đà Nẵng, ghềnh Nam Ô đẹp nhất vào những thời điểm thủy triều xuống, khi các mảng đá và thảm rêu dần lộ ra. Vì vậy, nếu muốn chụp ảnh, du khách nên kiểm tra thời điểm thủy triều và điều kiện thời tiết trước khi đi.
Đây cũng là nơi phù hợp để đi dạo, ngắm cảnh và quan sát hệ sinh thái ven bờ. Tuy nhiên, những phiến đá phủ rêu có thể rất trơn, nhất là khi còn ướt. Du khách nên mang giày có độ bám tốt, tránh trèo lên những mỏm đá sát sóng và không nên xuống ghềnh khi biển động.
Ngoài ghềnh đá, khu vực Nam Ô còn lưu giữ một số công trình tín ngưỡng, di tích gắn với lịch sử làng như lăng thờ cá Ông, đình làng, các miếu và mộ tiền hiền. Trong đó, lăng Ông thờ cá Voi được xây dựng từ thời vua Gia Long (1802). Làng còn có 4 giếng Chăm cổ, điều lạ là dù nằm sát biển, nước giếng vẫn ngọt mát. Nếu có thời gian, du khách có thể kết hợp ghé thăm để hiểu thêm về đời sống tinh thần của một cộng đồng cư dân biển lâu đời.


Ảnh: Google Review
Đến Nam Ô thì chơi gì, ăn gì?
Nếu chỉ có nửa ngày, du khách có thể bắt đầu bằng việc dạo quanh những con ngõ của làng chài, quan sát các cơ sở làm nước mắm và tìm hiểu cách người dân ủ chượp. Một số cơ sở có thể đón khách tham quan, giới thiệu quy trình sản xuất và bán sản phẩm tại chỗ; nên liên hệ trước nếu muốn được hướng dẫn kỹ hơn.
Sau đó, có thể ghé ghềnh Nam Ô để ngắm cảnh, chụp ảnh và đi dạo ven biển. Nếu đến đúng mùa rong mứt (khoảng tháng 10 - 12), du khách có thể tìm hiểu hoạt động thu hoạch của người dân, nhưng cần lưu ý lịch khai thác phụ thuộc vào thủy triều và điều kiện thực tế, không phải lúc nào cũng có thể quan sát. Người dân thường ra ghềnh từ tờ mờ sáng, nên muốn xem thì du khách cần dậy sớm.

Nam Ô nổi tiếng với món gỏi cá trứ danh. Ảnh: @van0503/Instagram
Về ăn uống, ngoài gỏi cá trích, du khách có thể thưởng thức các món hải sản, bún cá và những món ăn địa phương. Nếu thích hương vị truyền thống, mua một chai nước mắm Nam Ô hoặc một ít mứt biển khô tại cơ sở uy tín cũng là lựa chọn phù hợp để mang về.

Cháo chờ Nam Ô dân dã mà hấp dẫn. Ảnh: huynguyenhhat.
Một lịch trình gợi ý là buổi sáng ghé làng nghề và ghềnh Nam Ô, sau đó ăn trưa với đặc sản địa phương. Nếu muốn kéo dài chuyến đi, có thể kết hợp với bãi biển Xuân Thiều hoặc cung đường đèo Hải Vân, tùy thời gian và điều kiện di chuyển.
Cách di chuyển đến làng chài Nam Ô
Nam Ô nằm ở phía Tây Bắc Đà Nẵng, cách khu vực trung tâm thành phố khoảng 15 km theo thông tin du lịch địa phương. Từ trung tâm, du khách có thể đi xe máy hoặc ô tô theo đường Nguyễn Tất Thành hướng về phía Bắc, sau đó tiếp tục đến khu vực làng Nam Ô.
Nếu xuất phát từ sân bay quốc tế Đà Nẵng, có thể đi taxi hoặc ô tô dịch vụ; thời gian thực tế phụ thuộc điểm xuất phát, tuyến đường và tình hình giao thông.
Nam Ô phù hợp để khám phá trong nửa ngày, nhưng nếu muốn kết hợp cả làng nghề, ghềnh đá, ẩm thực và các điểm ven biển lân cận, du khách có thể dành trọn một ngày. Nên kiểm tra thời tiết và thủy triều trước khi đi, đặc biệt nếu mục tiêu là ngắm rêu xanh hoặc tìm hiểu nghề thu hoạch mứt biển.
Điều khiến Nam Ô đáng nhớ không chỉ là một chai nước mắm hay đĩa gỏi cá trích. Đó là cách nhiều nét sinh hoạt gắn với biển vẫn còn hiện diện trong đời sống thường ngày: những chum mắm cần nhiều tháng để ủ, những người dân ra ghềnh đá theo con nước và những món ăn được hình thành từ chính nguồn nguyên liệu địa phương.

Tour tham quan làng nghề nước mắm Nam Ô được nhiều du khách yêu thích. Ảnh: Sovaba Travel
Trong bối cảnh du lịch phát triển, Nam Ô đang đứng trước cơ hội đưa nghề truyền thống và văn hóa làng chài đến gần hơn với du khách. Nhưng để làm được điều đó, điều quan trọng không chỉ là mở thêm điểm tham quan, mà còn là giữ được sinh kế của người dân, nguồn nguyên liệu và không gian sống đã tạo nên bản sắc của làng.
Bởi suy cho cùng, sức hấp dẫn của Nam Ô không nằm ở việc nơi đây có thể trở thành một điểm check-in mới, mà ở chỗ du khách vẫn có cơ hội nhìn thấy một phần đời sống biển được tiếp nối qua nhiều thế hệ — từ những giọt nước mắm chắt chiu trong chum, món gỏi cá đậm vị đến những mảng rong mứt chỉ xuất hiện khi biển rút.
(Tổng hợp)
Đời sống & Pháp luật