20 năm đầu dựa chỉ vào công nghệ ngoại, 10 năm tự chủ công nghệ, 10 năm tiếp dẫn đầu thế giới: Việt Nam học được gì từ kỳ tích của Samsung?
Kỳ tích phát triển của Samsung cho thấy điều gì?

Ảnh minh họa
Theo GS. Nguyễn Văn Thọ, kinh nghiệm Đông Á về phát triển doanh nghiệp tư nhân có nhiều điểm để Việt Nam học hỏi. Trong đó, khi nhắc đến Hàn Quốc, chính sách công nghiệp là cốt lõi của chiến lược phát triển của quốc gia này. Công cụ và việc thực hiện chính sách công nghiệp đã thúc đẩy ra đời những doanh nghiệp lớn góp phần củng cố nội lực.
Mặt khác, quá trình phát triển của Hàn Quốc là “công nghiệp hóa qua học tập”, phản ảnh thái độ tích cực của doanh nghiệp Hàn Quốc trong việc tranh thủ nguồn lực kinh doanh (NLKD) nước ngoài và nỗ lực đuổi theo trong NLKD. Nỗ lực này rất ấn tượng, bắt nguồn từ tinh thần dân tộc mạnh mẽ như sẽ thấy trong trường hợp phát triển của các doanh nghiệp trong ngành tơ sợ tổng hợp, ngành ô tô, và điện tử.
Hàn Quốc cũng tham khảo chính sách công nghiệp của Nhật nhưng trong việc thực hiện có nhiều điểm sáng tạo. Công cụ chính sách công nghiệp được áp dụng nhiều là hỗ trợ tín dụng để doanh nghiệp có vốn đầu tư, hỗ trợ ngoại tệ để nhập khẩu máy móc, nguyên liệu thiết yếu. Nhưng điều kiện để được hưởng các ưu đãi đó là phải xuất khẩu, nghĩa là phải cạnh tranh được trên thị trường thế giới trong thời gian ngắn.
Nguyên tắc này rất minh bạch, khách quan và có tính chiến lược, khác với chiến lược công nghiệp hóa thấy ở nhiều nước khác. Với phương châm hỗ trợ tín dụng và ngoại tệ có điều kiện ấy, đặc biệt chiến lược phát triển công nghiệp nặng từ đầu thập niên 1970 đã cho ra đời nhiều tập đoàn doanh nghiệp lớn (chaebol).
Sau cuộc khủng hoảng tài chánh Á châu (1997), chính sách hỗ trợ trực tiếp của chính phủ chấm dứt, một số chaebol phá sản hoặc sáp nhập vào công ty khác nhưng nhiều tập đoàn như Hyundai, Samsung tiếp tục lớn mạnh nhờ chủ động trong tích lũy NLKD, nhất là tích cực đầu tư trong công nghệ.
Về việc sử dụng ngoại lực, mô hình Hàn Quốc học hỏi, tiếp thu và tự lập công nghệ khá ấn tượng. Trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển (từ thập niên 1960 đến cuối thập niên 1980) Hàn Quốc thiếu vốn (K) và công nghệ (T) nên tích cực vay vốn và mua công nghệ rồi học tập, sáng tạo để dần dần tự chủ cả K và T.
Vốn nước ngoài chủ yếu do chính phủ vay trực tiếp và cho doanh nghiệp vay lại với lãi suất ưu đãi trong khuôn khổ chính sách công nghiệp nói trên. Chính phủ cũng bảo lãnh cho doanh nghiệp vay với điều kiện ràng buộc vào thành quả cải thiện sức cạnh tranh (thông qua xuất khẩu) của doanh nghiệp. Công nghệ nước ngoài thì doanh nghiệp trực tiếp tìm kiếm và du nhập.
Những tập đoàn nổi tiếng hiện nay như Samsung cũng lớn mạnh qua quá trình học tập nước ngoài bằng du nhập công nghệ rồi dần dần tự chủ công nghệ.
Samsung cũng là trường hợp điển hình thành công trong nỗ lực đuổi theo trong nguồn lực kinh doanh (NLKD). Thành lập năm 1969, Samsung bắt đầu bằng việc du nhập công nghệ từ Nhật và Mỹ. Samsung nhập công nghệ đồ điện gia dụng từ Sanyo của Nhật, nhập khẩu linh kiện và lắp ráp TV trắng đen, máy giặt và tủ lạnh.
Đến giữa thập niên 1980, Samsung quyết định mở rộng hoạt động sang ngành bán dẫn. Công ty đã mua hợp đồng công nghệ DRAM từ các công ty bán dẫn của Mỹ như Microchip, Signetics và Texas Instruments; hợp đồng với NEC, Fujitsu, Htachi của Nhật để mua công nghệ sản xuất và máy chế tạo bán dẫn. Cuối thập niên 1980, Samsung đã tự mình nghiên cứu và chế tạo được 1M DRAM.
Đến đầu thập niên 1990, trên thị trường DRAM, Samsung đã cạnh tranh được với Nhật. Đặc biệt vào năm 1992, Samsung là công ty đầu tiên trên thế giới thành công trong việc chế tạo 64M DRAM. Từ giữa thập niên 1990, Samsung trở thành top của thế giới về bán dẫn và điện thoại thông minh. Đây là thời điểm đánh dấu chuyển từ du nhập sang tự chủ công nghệ.
Từ thập niên 2000, Samsung đầu tư mạnh trong nghiên cứu và triển khai (R&D), mua và sáp nhập (M&A) nhiều công ty của Mỹ và Tây Âu, và trở thành tập đoàn đa quốc gia lớn mạnh. Như vậy, khoảng 10 năm đầu (thập niên 1970) Samsung dựa vào công nghệ Nhật, 10 năm tiếp theo du nhập công nghệ Mỹ và từ thập niên 1990, hoàn toàn tự mình sáng tạo công nghê.
Từ thập niên 2000 Samsung trở thành công ty hàng đầu thế giới. Như vậy, Samsung chỉ dựa vào công nghệ nước ngoài 20 năm đầu, 10 năm tiếp theo tự chủ được công nghệ và 10 năm kế tiếp dẫn đầu thế giới. Một kỳ tích dùng lợi thế của công ty đi sau và thành công ngoạn mục trong việc tích lũy, đuổi theo và vượt nước ngoài trong NLKD.
Là một nước đi sau, Hàn Quốc đã thành công trong chiến lược công nghiệp hóa đuổi theo nước đi trước mà cốt lõi là nỗ lực đuổi theo trong NLKD của doanh nghiệp. Vai trò của chính phủ là qua chính sách công nghiệp hiệu quả đã hỗ trợ doanh nghiệp lớn mạnh ở giai đoạn đầu và qua chính sách chấn hưng khoa học, khuyến khích đầu tư công nghệ, đào tạo nhân tài đã giúp doanh nghiệp theo kịp nước ngoài và tự chủ trong NLKD.
Từ kinh nghiệm của Hàn Quốc, GS. Trần Văn Thọ cho biết, Việt Nam cần một chính sách công nghiệp hiệu quả để giúp doanh nghiệp lớn càng lớn hơn, cùng với họ chia sẻ tầm nhìn về hướng đi của kinh tế và thúc đẩy đầu tư trong R&D.
An ninh tiền tệ